[Bí Ẩn Lỗ Ban Giáo] Phần 1

Đây là phần mở đầu cho series kể chuyện tâm linh, huyền bí về gia đình họ Quách và sự liên quan đến Lỗ Ban Thư - một cuốn sách cổ được coi là cấm kỵ

Cài đặt giọng đọc

Tùy chỉnh hiển thị

Bạn nghĩ Lỗ Ban chỉ là một người thợ mộc sao? Lỗ Ban Thư được coi là quyển sách Cấm thuật tà dị nhất trong lịch sử Trung Quốc, bị cấm đọc và lan truyền qua nhiều triều đại. Tương truyền: Người học xong quyển sách này không chết thì cũng bị thương. Ngay câu mở đầu của sách đã viết, ai học cuốn sách này: Ngũ cô quả phế độc, tất chiếm một môn. Ngũ ngoan này ám chỉ sự cô độc, góa phụ, mồ côi... Ba mất là mất tiền tài, mạng sống hoặc thân thể toàn vẹn. Vì thế cuốn sách này còn được gọi là Khuyết Nhất Môn và được ví như Quỳ Hoa Bảo Điển trong giới huyền học.

Sách chia thành hai phần. Phần đầu là ghi chép về các kỹ năng thợ mộc bình thường. Nhưng từ phần sau nội dung bắt đầu kỳ quái, ghi lại các loại chú thuật kinh hoàng, thậm chí là lời nguyền dành cho thế hệ sau. Những thuật pháp nổi tiếng như Thất Tinh Đăng Tục Mệnh pháp của Gia Cát Lượng, kỹ thuật làm cầu trong cổ đại, thuật ẩn thân và hóa cốt đều có nguồn gốc từ quyển sách này. Người xưa thường nói, người không nhờ tiền tài bất ngờ thì không giàu, ngựa không ăn cỏ đêm thì không nhanh. Gia đình tổ tiên tôi, cụ thể là Cụ Cố của tôi, phát tài nhờ một khoản tiền bất ngờ như vậy.

Nghe người nhà kể lại, ở thời đỉnh cao, gia đình tôi sở hữu ba dãy cửa hàng nằm tại các khu sầm uất nhất. Nhưng câu chuyện về khoản tiền bất ngờ ấy nghe kỳ lạ đến nỗi tôi đến giờ vẫn không tin. Viết lại đây, mong mọi người xem như một câu chuyện để giải trí.

Cụ Cố tôi vốn là một thợ mộc, không phải tay nghề quá giỏi, nhưng trong thời buổi đó biết một nghề thủ công cũng đủ để không chết đói. Mùa đông năm ấy, tuyết rơi rất nhiều, kéo dài đến tận mùa xuân mà tuyết vẫn không ngừng. Người dân sớm tiêu hết lương thực dự trữ mùa đông và có thể nói là một nạn đói xảy ra. May mà Cụ Cố biết nghề mộc có thể làm việc cho các gia đình giàu có để đổi lấy chút lương thực nhưng cuộc sống vẫn rất khó khăn. Một đêm nọ khi Cụ Cố đang mơ màng ngủ thì bất ngờ nghe thấy tiếng gõ cửa rất rõ ràng.

"Đừng gõ nữa, trong nhà không còn lương thực đâu, ta cũng sắp chết đói rồi." Cụ Cố vừa chui khỏi chăn vừa nói. Nhưng tiếng gõ vẫn không dừng. Thời đó người đi ăn xin không ít, nhưng ít ai đến gõ cửa giữa đêm khuya. Nghĩ đến việc có thể là người thực sự gặp nguy hiểm, Cụ Cố quyết định mở cửa. Trước cửa là một đứa trẻ ăn mặc rách rưới, mặt mũi trắng trẻo, đôi mắt tròn long lanh.

Cụ Cố vốn mềm lòng thấy cảnh thảm thương của đứa trẻ, lời mắng mỏ đã chuẩn bị sẵn không thốt lên được. "Đói lắm phải không?" Cụ hỏi. Hỏi xong lại muốn tự tát mình vì rõ ràng đây là một câu hỏi thừa. Đứa trẻ gật đầu. Cụ quay vào lấy một chiếc bánh ngô cứng như đá bẻ đôi và đưa cho cậu bé.

"Ăn đi, ăn xong thì đi tìm chỗ khác." Cụ nói. Cậu bé cầm lấy một nửa chiếc bánh ăn ngấu nghiến. Ăn xong cậu nhìn Cụ Cố như muốn xin thêm. Hết rồi, thực sự hết rồi. Cụ nói, đóng sập cửa lại.

Sáng hôm sau, cụ ra ngoài làm việc, đứa trẻ đã biến mất. Nhưng đêm hôm sau, tiếng gõ cửa lại vang lên. Cụ mở cửa ra thì thấy không chỉ cậu bé mà còn một cô bé trắng trẻo đứng bên cạnh. Hai đứa trẻ im lặng không nói gì. Hai đứa trẻ nhìn Cụ Cố với ánh mắt đầy tội nghiệp khiến lòng cụ lại mềm đi. Cụ lấy một chiếc bánh ngô và chia cho hai đứa trẻ.

Sau khi ăn xong, cụ dặn dò chúng rằng từ ngày mai đừng đến nữa. Nếu còn đến thì cụ sẽ dùng gậy đuổi đi. Nhưng đến ngày thứ ba, khi hai đứa trẻ lại đến, Cụ Cố vẫn không nỡ lòng nào đuổi chúng đi. Cứ như vậy, hai đứa trẻ dường như đã quen thuộc với nơi này, đêm nào cũng đến tìm Cụ Cố.

Thời đó cụ làm việc không nhận được tiền công, chỉ được trả sáu chiếc bánh ngô và một đĩa dưa muối mỗi ngày. Hai đứa trẻ chỉ cần mỗi đứa một nửa chiếc bánh ngô và cụ nghĩ rằng bản thân ăn ít đi một chiếc cũng không đến mức chết đói. Nhưng với hai đứa trẻ, thiếu đi một chiếc bánh có thể đồng nghĩa với cái chết. Cụ chuẩn bị sẵn một chiếc bánh ngô và chia cho hai đứa trẻ mỗi đêm. Chúng luôn giữ phép tắc, không nói lời nào, ăn xong ở cửa nhà rồi rời đi. Cứ như thế, hai đứa trẻ đến ăn bánh suốt hai tháng, cho đến khi tuyết tàn, mùa màng hồi phục, nạn đói dần qua đi.

Một ngày nọ, hai đứa trẻ đột ngột không đến nữa, khiến Cụ Cố cảm thấy có chút trống vắng. Nhưng cụ cũng chỉ nghĩ vậy rồi bỏ qua. Bởi thời đó con người không có thói quen suy nghĩ nhiều, chủ yếu là lo cho miếng ăn hàng ngày. Khoảng nửa tháng sau, vào một đêm nọ, tiếng gõ cửa lại vang lên.

Khi Cụ Cố mở cửa, cụ thấy hai người lớn dẫn theo hai đứa trẻ, chính là hai đứa bé từng xin ăn. Hai người lớn cúi đầu cảm tạ Cụ Cố rối rít. Họ kể rằng họ là thương nhân đi qua vùng này, trên đường gặp phải cướp, chạy thoát thân nên lạc mất hai đứa trẻ. Nhờ sự giúp đỡ của Cụ Cố mà hai đứa trẻ được cứu mạng. Thời loạn lạc, nạn đói hoành hành, Cụ Cố cũng biết trên núi có cướp nên ông vội vàng nói rằng đó chỉ là chuyện nhỏ không đáng kể và mừng vị gia đình họ đã đoàn tụ. Sau đó cụ mời cả gia đình bốn người vào nhà ngồi chơi, nhưng hai người lớn từ chối, nói rằng họ còn phải vội đi kinh thành.

Họ để lại một chiếc dương nặng trịch, dặn Cụ Cố sau khi họ rời đi, hãy mở ra. Cụ Cố từ chối mãi nhưng gia đình bốn người rất kiên quyết. Bất đắc dĩ cụ đành nhận sau khi họ đi, cụ mở chiếc dương ra và thấy bên trong đầy ắp những thỏi vàng lấp lánh. Đó chính là khoản tiền bất ngờ đã thay đổi cuộc đời Cụ Cố. Nhờ số vàng này, Cụ Cố mua ruộng đất, nhà cửa và nhanh chóng trở thành một trong những người giàu có nổi tiếng trong vùng.

Khi có người tò mò hỏi cụ phát tài bằng cách nào, cụ không giấu giếm mà kể lại chuyện cứu giúp người và được tặng vàng. Dù có người ghen tỵ nhưng họ cũng không thể nói gì bởi đó là quả báo tốt cho lòng nhân ái. Trong thời kỳ đói khổ ấy, không phải ai cũng sẵn sàng chia miếng bánh cứu mạng của mình cho hai đứa trẻ xa lạ. Có tiền, Cụ Cố cưới vợ, lấy thêm ba người thiếp, nhưng mãi không có con. Dù đã đi khám và chữa trị nhiều nơi, bệnh tình vẫn không cải thiện, khiến cụ rất phiền lòng. Một người hầu mách nước rằng có thể do phong thủy trong nhà có vấn đề và khuyên cụ mời một thầy phong thủy đến xem.

Cụ Cố vốn không phải người kiên định nên đã cho tiền người hầu đi tìm thầy Phong Thủy. Người hầu của Cụ Cố thực sự đã tìm được một thầy phong thủy họ Tôn nổi tiếng trong thành.

Sau khi đến nhà và quan sát khắp nơi, Thầy Tôn đặt la bàn lên bàn, nhắm mắt dưỡng thần một lúc lâu. Cụ Cố đứng cạnh không dám làm phiền. Một lát sau, Thầy Tôn bật một cái ở, mở mắt ra và nói: "Ông nhận được gia tải cách xù từ người ta, nhưng họ cũng tuyệt đường hương hỏa của nhà họ Quách ông rồi."

Cụ Cố nghe mà không hiểu, vội vàng hỏi ý nghĩa trong lời nói của thầy. Thầy Tôn thở dài, "Ông Quách, ông vẫn chưa hiểu sao người mang đến dương vàng ấy không phải con người mà là Hoàng Tiên trên núi những linh thú đã tu luyện."

Thầy Tôn tiếp tục giải thích, "Ba năm trước, khi xảy ra nạn đói lớn, không còn gì để ăn, nhiều người đào bới cả núi, cướp sạch lương thực mà Hoàng Tiên tích trữ để qua đông. Những Hoàng Tiên lớn có thể duy trì mạng sống nhờ một hơi thở, nhưng những tiên nhỏ thì chịu không nổi, phải xuống núi tìm đồ ăn. Và thế là chúng đến nhà ông, ông đã cứu chúng trong lúc nguy cấp mà Hoàng Tiên thì luôn có ân tất báo. Vì vậy, sau khi nạn đói qua đi, chúng mang Dương Vạn đến để trả ơn ông. Lời giải thích của Thầy Tôn chi tiết và thuyết phục, nhưng Cụ Cố vẫn bán tín bán nghi.

Nếu thật sự là tiên thú tu luyện, sao không tự kiếm ăn lại phải đến xin tôi? Thầy Tôn đáp: "Điều đó ông không biết. Những loài thú thông thường chưa tu luyện mới có thể làm hại người vì chúng không có ý thức linh thiêng. Nhưng những sinh vật đã tu luyện đạt đến cảnh giới thì bị Thiên Quy giám sát, không được tùy tiện làm hại ai. Nếu ông không tin, hãy phái người hỏi thử xem ba năm trước ở Hậu Sơn có phải có người đã đạo được một cái hang đẩy lương thực khô và quả hạt không? Nhờ đó mà nhiều người sống sót qua nạn đói.

Cụ Cố lập tức với người điều tra. Và quả nhiên có chuyện như vậy. Một trong những người được cứu sống nhờ số lương thực ấy còn là người quen của cụ. Biết tin Cụ Cố phần nào tin vào lời của Thầy Tôn. Thầy nói tiếp, "Không chỉ những đứa trẻ đến xin ăn hay gia đình bốn người đến trả ơn, tất cả đều không dám bước vào cửa nhà ông, đúng không?"

Cụ Cố gật đầu, "Đúng vậy, tôi đã mời mãi mà họ không chịu vào." Thầy Tôn giải thích, "Đó là vì trên xà nhà nh nhà nhà ông có khắc dòng chữ Khương Thái Công ở đây, Bách Vô Cấm Kỵ. Với sự hiện diện của Khương Thái Công, làm sao chúng dám vào nhà được?" Nghe vậy, Cụ Cố đập đùi, khen ngợi Thầy Tôn là thần nhân. Nhưng ông vẫn còn một thắc mắc, nếu chúng thực sự là tiên thú, tại sao đã báo ơn tôi lại còn muốn hại tôi?

Thầy Tôn đáp. Hoàng Tiên lấy việc báo ơn làm đầu, nhưng số phận ông mỏng, không chịu nổi sự phú quý này. Vì vậy, chúng lấy đi đường hương hỏa nhà ông, đổi lại cho ông sự giàu sang. Sự giàu có này thực chất là cái giá của sự hy sinh hương hòa. Thầy nói tiếp, "Những Hoàng Tiên chỉ báo ơn một mình ông.

Khi ông còn sống, chúng không quấy rối. Nhưng một khi ông qua đời, chúng sẽ lấy lại mọi thứ đã trao khiến nhà họ Quách Lâm vào cảnh lụn bại, gà chó không yên." Nghe vậy, Cụ Cố hoàn toàn tin tưởng Thầy Tôn và cầu xin cách hóa giải.

Thầy Tôn nhíu mày nhìn Cụ Cố và nói: "Nhân quả, nhân quả, cắt đức nhân thì không còn quả. trả lại toàn bộ số tài sản ấy rồi sống an ổn với nghề mộc của ông.

Thầy Tôn nói: "Nhà họ Quách của ông vẫn có thể giữ được hương hỏa truyền đời, nhưng ông có đồng ý không?" Cụ Cố ngay lập tức rơi vào tình cảnh khó xử, dễ đi từ nghèo sang dậu, khó quay lại từ giàu sang nghèo. Cụ từng là một kẻ nghèo khổ, nay đã quen với cuộc sống giàu sang, nổi tiếng khắp vùng. Giờ bảo cụ trả lại toàn bộ tài sản quả thật là một yêu cầu quá đáng. Nhưng cụ cũng hiểu rằng bất hiếu có ba, vô hậu là lớn nhất. Nếu vì mình dòng họ Quách Đứt Hương Hỏa thì đó là điều không thể chấp nhận được. Thấy cụ rơi vào thế tiến thoái lưỡng nan, Thầy Tôn nói: "Nếu ông Quách không muốn trả lại tài sản để hóa giải nhân quả thì vẫn còn một cách khác."

Cụ Cố vội hỏi: "Là cách gì?" Thầy Tôn đáp: "Giết sạch những Hoàng Tiên đã tu luyện thành công, diệt trừ tận gốc." Nghe vậy, Cụ Cố lập tức từ chối. Không thể nào, hai đứa trẻ ấy ngoan ngoãn, dễ thương, cha mẹ chúng cũng lễ phép, còn tặng tôi món quà lớn, giết họ là điều không thể làm.

Thầy Tôn lắc đầu, việc này lớn, ông hãy suy nghĩ kỹ. Khi nào quyết định xong, hãy cho người đến Thanh Phong quan tìm tôi." Sau khi Thầy Tôn rời đi, Cụ Cố phiền não không thôi. Những kẻ bợ đỡ xung quanh cụ đều vì tiền bạc mà tụ tập, chắc chắn sẽ không để cụ trả lại gia sản. Các bà vợ và thiếp của cụ tuy mong có con, nhưng nếu cụ trở nên nghèo khó, làm sao họ sống được? Còn hàng xóm, chắc hẳn sẽ mong cụ quay lại cảnh nghèo đói trong một đêm.

Cụ Cố chăn chở suốt ba ngày ba đêm không chợp mắt. Đến ngày thứ tư, cụ quyết định một mình đến Thanh Phong quan gặp Thầy Tôn. Thầy Tôn hỏi: "Ông đã quyết định chưa?"

Cụ Cố vẫn chưa chắc chắn. "Có cách nào khác ngoài hai cách đó không, tôi sẽ không quên ơn của ông và sẽ báo đáp suốt đời." Thầy Tôn lắc đầu, "Không còn cách nào khác." Sau đó thầy nói: "Nếu ông vẫn chưa quyết định, tối nay tôi sẽ dẫn ông đến gặp Hoàng Tiên." Nhìn thấy họ rồi, ông hãy đưa ra quyết định cũng chưa muộn. Đến tối, Thầy Tôn chuẩn bị nước phù hộ cho cụ uống, giải thích rằng chỉ khi uống nước này, Hoàng Tiên mới không nhìn thấy họ. Hai người bắt đầu lên đường.

Khi đi, Cụ Cố cảm thấy đường đi rất quen thuộc. Cụ còn chưa kịp nói gì thì Thầy Tôn đã lên tiếng. Có phải ông cảm thấy quen không? Đúng vậy, chúng ta đang đi về khu mộ tổ của nhà họ Quách.

Hoàng Tiên muốn cắt đứt hương hỏa nhà ông nên đã biến nơi này thành tổ của chúng. Thầy dặn Cụ Cố, hãy đi theo tôi, dù thấy gì cũng không được lên tiếng. Hai người đến khu mộ tổ của nhà họ Quách.

Thời đó, dù giàu hay nghèo, người ta vẫn giữ ý thức mạnh mẽ về dòng tộc. Người cùng họ thường được chôn cất cùng một nơi, dần dần hình thành khu mộ tổ. Nơi này âm u rợn người, đầy côn trùng bò lồm ngồm, mỗi bước chân của họ làm rắn và chim bay tán loạn, không khí thật đáng sợ. Nhưng có Thầy Tôn bên cạnh, Cụ Cố cảm thấy can đảm hơn. Cụ chỉ vị trí mộ cha mẹ mình cho Thầy Tôn. Nhìn qua thầy nói: "Mộ cha ông cỏ mọc xanh tươi, trước mộ có một cây lớn như chiếc ô, cho thấy phong thủy ở đây không tệ. Việc ông có được cơ duyên này cũng không phải ngẫu nhiên mà nhờ phúc đức tổ tiên để lại.

Thầy nói tiếp, "Chúng ta hãy trèo lên cây trước mộ, nhớ không được lên tiếng." Hai người leo lên cây, những cảnh lá rậm rạp che khuất bóng dáng họ. Mùa hè nhiều muỗi, chúng đốt đau đớn nhưng Thầy Tôn không nói lời nào.

Cụ Cố chỉ biết chịu đựng nỗi đau đớn về thể xác do muỗi và côn trùng cắn. Khoảng một canh giờ sau, bỗng nhiên từ mộ phần của cha mẹ cụ bốc lên một làn khói trắng. Trong làn khói ấy có bóng người qua lại, như thể có ai đó đang đi lại bên trong.

Cụ Cố mở to mắt chờ cho lạnn khói tan đi. Khi khói tan, dưới gốc cây đã biến thành một biệt viện với đỉnh đài lầu các trong sân. Hoa cỏ được bảy trí rất thanh nhã và có người hậu bận rộn qua lại. Nhìn thoáng qua nơi này giống hệt dinh thự của một gia đình giàu có. Nhưng trong lòng Cụ Cố, sóng giữ đã dâng trào. Bởi vì cả biệt viện và những người hầu trong đó, cụ đều nhận ra đó chính là nhà và người hầu bằng giấy mà cụ đã đốt để cúng tế cha mẹ trong những dịp lễ tổ. Không lâu sau, từ căn nhà chính, một gia đình bốn người bước ra.

Cụ Cố nhìn kỹ, nhận ra đó chính là gia đình bốn người đã mang vàng đến tặng cụ. Họ đi lại vui vẻ trong sân, dáng vẻ hạnh phúc. Một lát sau, có lẽ đi mệt, họ ngồi xuống bàn ăn.

Lúc này Cụ Cố nhận ra người hầu bên cạnh phục vụ gia đình này chính là cha mẹ đã khuất của cụ. Tức giận dâng lên, cụ định nhảy xuống cây để hỏi cho ra lẽ, nhưng Thầy Tôn vội vàng bịt miệng cụ lại, ra hiệu cụ hãy tiếp tục quan sát.

Cụ Cố nhìn thấy sau khi gia đình bốn người ăn uống no say, cha mẹ cụ mới được phép lên bàn dọn lấy chút thức ăn thừa. Nhìn cảnh tượng này, mắt cụ đỏ hoe suýt rơi nước mắt. Hai người tiếp tục ẩn mình trên cây, quan sát gia đình bốn người vui chơi trong sân. Cha mẹ cụ và những người hầu bằng giấy thì bận rộn làm lụng. Mãi cho đến lúc gà gáy ba tiếng, làn khói trắng lại bốc lên. Và khi khói tan, cả biệt viện lẫn người hầu đều biến mất. Hai người xuống khỏi cây, Cụ Cố quỳ trước mộ cha mẹ, khóc nức nở.

Sau khi khóc một hồi, cụ nói với Thầy Tôn, "Lũ Hoàng Tiên đáng ghét, dám đối xử với cha mẹ tôi như thế này. Tôi cúng phẩm vật cho cha mẹ, vậy mà chúng dám lấy đi hưởng thụ, để lại thức ăn thừa cho cha mẹ tôi, còn bắt họ làm người hầu, thật không thể chịu đựng nổi.

Thầy Tôn, tôi đã quyết định tôi sẽ tiêu diệt lũ Hoàng Tiên này để trả lại công bằng cho cha mẹ tôi." Thầy Tôn gật đầu. Những Hoàng Tiên này đã tu luyện thành công, nếu tiêu diệt chúng cũng sẽ tổn hại phần âm đức của ông.

Cụ Cố đáp: "Thầy yên tâm, tôi nhất định sẽ lo đầy đủ cho Thanh Phong quan, không để thầy chịu thiệt." Thầy Tôn lắc đầu, "Người ngoại đạo nói chuyện tiền bạc làm gì? Nếu ông thật lòng, hãy sửa sang lại Thanh Phong quan. Nơi này đã cũ kỹ, tượng Tam Thanh tổ sư cũng phủ đầy bụi, mong ông có thể giúp đỡ."

Cụ Cố lập tức đồng ý. Sau đó Thầy Tôn ghé sát tai cụ thì thầm Lũ Hoàng Tiên thích nơi đông vui ông hãy làm như thế này. Trở về nhà Cụ Cố sai người quản gia mời một đoàn hát bóng ra từ thành phố đến. Cụ còn cho người khác thuê lại một căn nhà hoang ở phía đông thành mua thêm chu xa, lưu huỳnh, thuốc súng và các vật dụng trừ tả khác.

Sau khi chuẩn bị xong, cụ cho sửa sang lại căn nhà ngoan rồi tuyên bố đó là dinh thự mới của mình. Đêm đó, đoàn hát bóng ra biểu diễn tại căn nhà mới. Người xem chỉ là gia nhân trong nhà Cụ Cố, nhưng giữa sân có hai chiếc bàn được bày biện. Trên một chiếc bàn, cụ đặt bài vị và hình ảnh của tổ tiên cha mẹ. Trước bàn còn lại bảy đầy hoa quả và phẩm vật cúng tế. Đây chính là kế hoạch của Thầy Tôn lũ Hoàng Tiên thích nơi náo nhiệt mà hát bóng ra lại là loại hình dành cho ma quỷ.

Cụ Cố đã sắp đặt màn kịch lớn này. Cụ Cố mời cha mẹ đã khuất về xem hát. Thầy Tôn dự đoán rằng Lũ Hoàng Tiên chắc chắn không thể ngồi yên ở nhà mà sẽ tới góp vui. Quả nhiên, khi đêm xuống và không gian tĩnh lặng, Thầy Tôn ngồi trên tường quan sát, thấy gia đình bốn người cùng cha mẹ của Cụ Cố đến ngồi vào hai chiếc bàn để trống. Gia đình bốn người rất hứng thú với buổi biểu diễn, nhanh chóng bị cuốn hút, không hề hay biết rằng mình đã rơi vào bẫy của Thầy Tôn. Những người hầu xem hát dần dần rời đi.

Khi thời cơ chín muội, Thầy Tôn bất ngờ gõ mạnh chiếc cổng, phát ra tiếng vang lớn. Đoàn hát nhanh chóng rút khỏi sân, để lại gia đình Hoàng Tiên và cha mẹ của Cụ Cố. Sau tiếng cổng, linh hồn cha mẹ Cụ Cố tan biến, trở về nơi an nghỉ trong mộ phần. Nhưng gia đình Hoàng Tiên vẫn là thực thể và khi họ định trốn thoát thì phát hiện các cửa sổ và lối ra đều đã bịt kín.

Thầy Tôn ra lệnh, gia nhân lập tức châm lửa Lưu Huỳnh vào thuốc súng. Trong nháy mắt, ngọn lửa bùng lên, ánh sáng rực rỡ khiến người ta không thể mở mắt. Gia nhân ném Chu Sa liên tục vào sân, ngọn lửa tiếp tục cháy suốt ba canh giờ.

Khi lửa dịu đi, Cụ Cố và Thầy Tôn bước vào sân. Họ phát hiện bốn con chồn vàng khổng lồ đã bị thiêu cháy, bộ lông cháy xém, tỏa ra mùi thịt cháy khét. Hai con lớn chết trong tư thế bảo vệ hai con nhỏ.

Khi Thầy Tôn tiến lại gần, một con chồn nhỏ bất ngờ nhảy lên, cắn mạnh vào cổ thầy. Thầy hét lên đau đớn, Cụ Cố vội vàng ra lệnh cho gia nhân dùng gậy đánh con chồn. Con chồn nhỏ nhìn chằm chằm vào Cụ Cố, ánh mắt đầy ngạc nhiên, đau lòng, cuối cùng là tuyệt vọng và oán hận. gia nhân không nương tay đánh con chồn nhỏ đến chết, nhưng Cụ Cố nhận ra ánh mắt của nó giống hệt đứa trẻ đầu tiên đến xin ăn năm nào, chỉ khác là thân thể đã thay đổi. Cụ viết trong ghi chép của mình rằng suốt đời không thể quên ánh mắt đứa trẻ đó nhìn ông.

Con chồn nhỏ chết nhưng Thầy Tôn cũng bị cắn trọng thương ở cổ, máu chảy không ngừng, dù đã dùng nhiều bài thuốc cầm máu nhưng không hiệu quả. Cuối cùng thầy gắng sức viết một đơn thuốc, yêu cầu gia nhân đi lấy nguyên liệu. Đơn thuốc của thầy gồm những nguyên liệu kỳ lạ như bột long cốt, xưa ngựa và nhiều loại thuốc ít được sử dụng.

Sau khi chuẩn bị xong, chúng được nghiền thành bột và trộn với cho hương từ Thanh Phong quan rồi đắp lên vết thương của thầy. Lúc này máu mới cầm lại. Thầy Tôn đã rất yếu. Ông yêu cầu Cụ Cố đưa ông về Thanh Phong quan.

Cụ Cố lập tức làm theo. Khi về đến nơi, mặt thầy đã tái nhợt, không còn chút sức sống. Dù Cụ Cố mời nhiều thầy thuốc đến nhưng Thầy Tôn đều từ chối, chỉ mỉm cười và gọi ba đạo đồng đến bên giường. Thầy nói với Cụ Cố, "Ông Quách, đừng tốn công vô ích, đây là số phận của tôi. Thực ra tôi đã biết rằng số mệnh của mình sẽ gặp một kiếp nạn. Dù là cỏ cây, sâu bọ cũng muốn sống sót. Tôi đã nghĩ có thể mượn sức của ông để vượt qua kiếp này. Nhưng cuối cùng người tính không bằng trời tính." Cuối cùng sau khi tiêu diệt gia đình Hoàng Tiên, Cụ Cố nhận ra mình đã phạm phải sát nghiệp.

Tuy nhiên, vì Hoàng Tiên đã gây hại trước, cụ nghĩ rằng có lẽ điều này sẽ không dẫn đến hậu quả quá lớn, nhưng cụ vẫn lo lắng hai điều, một là sau khi cụ qua đời, liệu bạn bè hoặc đồng loại của Hoàng Tiên có đến trả thù, hai là các đệ tử tại Thanh Phong quan còn quá non nớt, cần có người chăm sóc đến khi trưởng thành. Ba đạo đồng khóc nức nở, Cụ Cố cũng quỳ xuống, hứa rằng sẽ trùng tu Thanh Phong quan và chăm lo cho các đệ tử của Thầy Tôn.

Thầy Tôn yên lòng quay mặt về phía Tượng Tam Thanh Tổ Sư tại Thanh Phong Quàn, mỉm cười rồi chút hơi thở cuối cùng. Cụ Cố lập tức sắp xếp tang lễ chu toàn cho Thầy Tôn, sau đó bắt đầu chuẩn bị kế hoạch trùng tu Thanh Phong quan để an ủi linh hồn Thầy Tôn trên thiên giới.

Sau khi hoàn thành mọi việc, cụ quay về nhà họ Quách khi trời đã sáng. Người nhà lo lắng suốt đêm hỏi cụ mọi chuyện đã xử lý xong chưa. Cụ không trả lời, chỉ trở về phòng và nằm ngủ. Trong cơn mê, cụ thấy cha mẹ mình xuất hiện trước giường, khóc không ngừng. Cụ vội vàng đứng dậy, đỡ lấy cha mẹ và nói: "Hai người là cha mẹ của con, sao lại quỳ trước con như vậy? Điều này sẽ làm giảm tuổi thọ của con mất." Mẹ cụ rơi nước mắt đỏ như máu và nói: "Con đã gây họa lớn, không chỉ hại cha mẹ mà bản thân con cũng sẽ gặp đại nạn.

Chúng ta đến đây để gặp con lần cuối. Dù con sắp về nơi Hoàng Tuyền để đoàn tụ với chúng ta, nhưng cha mẹ lại bị đẩy đến một nơi xa xôi, e rằng khó mà gặp lại."

Cụ Cố nhận ra lời mẹ nói, ám chỉ việc tiêu diệt gia đình Hoàng Tiên. Cụ giải thích: "Thưa cha mẹ, con giết Hoàng Tiên không phải vì ý muốn của con. Dù chúng đã ban cho con giàu sang nhưng lại khiến dòng họ Quách Đứt Hương Hỏa. Chúng còn chiếm đoạt nhà cửa mà con cúng tế cho cha mẹ, biến cha mẹ thành nô lệ. Đó là lý do con buộc phải hành động. Mẹ cụ khóc không ngừng trách. Con thật hổ đồ. Được tu hành bên cạnh Hoàng Tiên là niềm vinh dự của cha mẹ. Thêm vài năm nữa, cha mẹ đã có thể đạt được quả vị.

Khi đó Hoàng Tiên tự khắc rời đi và Hương Hỏa nhà họ Quách sẽ tiếp tục kéo dài. Nhưng giờ con đã gây ra đại họa. Hoàng Tiên tu luyện trên núi, quen biết nhiều tiên nhân, lại có quan hệ thân cận với Hoàng Tam nương nương, còn giết cả gia đình họ, không chỉ làm hại bản thân mà còn liên lụy cha mẹ vào kiếp nạn này. Nghe vậy, Cụ Cố Bảng Hoàng không biết nên tin lời cha mẹ hay lời Thầy Tôn. Trong cơn hoảng loạn, cụ thổ huyết và bất tỉnh.

Khi tỉnh lại, cụ nhận ra mình đang ở trước mộ phần cha mẹ. Cụ Cố kinh hãi, đứng dậy định bỏ chạy thì thấy bốn bóng đen mờ ảo tiến lại gần, ánh mắt xanh biếc và lạnh lẽo. Đó chính là gia đình Hoàng Tiên bị thiêu chết này, hiện hình thành bốn con chồn vàng khổng lồ như bốn con quỷ dữ đang đòi mạng. Dù Cụ Cố cố gắng chạy trốn nhưng không thể thoát khỏi sự đeo bám của chúng.

Cụ Cố cố gắng chạy trốn, nhưng dường như không thể thoát khỏi vòng luẩn quẩn, cũng không thể thoát khỏi gia đình Hoàng Tiên. Dù đang ở thời kỳ sung sức nhất của đời mình, cụ vẫn sợ hãi đến mức chân tay rụng rời, miệng [hắng giọng] liên tục gọi tên Thầy Tôn Cậu cứu, nhưng cụ cũng biết Thầy Tôn đã qua đời, không thể nào quay lại giúp mình được.

Khi cụ chạy tứ phía, bỗng nghe thấy tiếng bước chân từ bên ngoài, ánh đèn sáng rực, tưởng rằng có người đến truy sát, cụ hét lên một tiếng tuyệt vọng, nhưng khi nhìn kỹ cụ nhận ra đó là người thân của mình cùng gia nhân đã đến tìm.

Kỳ lạ thay, khi gia nhân xuất hiện, bốn bóng ma của gia đình Hoàng Tiên lập tức biến mất. Cụ Cố được đưa về nhà nhưng khi soi sáng bằng đuốc, cụ phát hiện khu vực mộ phần của cha mẹ mình đẩy những dấu chân vòng quanh, còn các khu vực khác không hề bị giẫm đạp. Điều này chứng tỏ cụ chỉ quanh quẩn chạy vòng quanh mộ phần. Cụ hỏi mọi người tại sao mình lại ở đây. Gia đình nói rằng buổi tối họ vẫn thấy cụ nằm ngủ trên giường, không muốn làm phiền vì nghĩ cụ quá mệt mỏi sau những ngày bận rộn. Nhưng đến nửa đêm, cụ tự mặc quần áo chỉnh tề, nói rằng mình ra ngoài đi dạo, không cho ai đi theo.

Ban đầu không ai nghi ngờ, chỉ nghĩ cụ buồn phiền nên ra ngoài giải tỏa. Nhưng khi cụ không quay lại, gia đình đã tìm kiếm khắp nơi. Một cậu bé ăn xin nói rằng đã thấy cụ đi theo một đứa trẻ có khuôn mặt trắng như cáo, đội mũ vải và mặc áo bông sặc sỡ. Đứa trẻ dẫn cụ ra ngoài thành phố.

Khi gia đình tìm kiếm theo hướng đó, họ phát hiện ra ánh sáng từ một chiếc đèn lồng đỏ trong khu mộ phần nhà họ Quách. Nhưng khi đến gần, chiếc đèn biến mất, chỉ còn lại cụ đang chạy vòng quanh mộ phần.

Cụ Cố nhận ra mình đã bị trúng tả. Cụ yêu cầu gia nhân giữ kín chuyện này vì giờ đây không còn cách nào xác minh liệu Thầy Tôn có phán đoán sai về gia đình Hoàng Tiên hay không. Điều quan trọng là thầy đã chết và cụ thì vẫn bị quấy rầy. Cụ sai người đi tìm những cao nhân khác để giúp mình vượt qua kiếp nạn. Đồng thời cụ đến Thanh Phong quan tìm các đệ tử của Thầy Tôn. Ba đệ tử của thầy đều là trẻ mồ côi được thầy nhận nuôi. Người lớn nhất khoảng 16 đến 17 tuổi, hai người còn lại vẫn rất nhỏ.

Lúc này cả ba đang canh giữ linh cứu của thầy. Khi thấy cụ đến, đệ tử lớn nhất đứng lên chào cụ. Cụ nhìn đệ tử này, thấy cậu tuy còn trẻ nhưng tướng mạo thanh tú, môi hồng răng trắng, toát ra chút thần tiên khí chất, như thể người sắp chết đuối tìm thấy một cọng rơm cứu mạng, ông ta vội vàng kể rõ nguyên nhân của việc gặp chuyện kỳ lạ vào đêm đó. Cuối cùng ông ta bật khóc nức nở, nói rằng Thầy Tôn đã khuất và khẩn cầu tiểu thần tiên cứu lấy mạng sống của mình. Tiểu đạo sĩ sau khi nghe xong từ tốn nói: "Ông chủ Quách, đừng hoảng, sư phụ ta đã biết đây là nghiệp chướng sinh tử của mình từ trước.

Trước khi xuất phát hàng yêu, ông ấy đã chuẩn bị chu toàn. Ông ấy biết rằng nếu mình chết, gia đình họ Hoàng chắc chắn sẽ quay lại gây rối. Nếu ông ấy sống, mọi chuyện sẽ được giải quyết. Nhưng nếu không vượt qua được và phải mất mạng, ông ấy cũng đã để lại phương án. Ở Thanh Phong quan có một con chó đen tên là Đại Hắc. Sư phụ đã nuôi nó từ nhỏ đến lớn.

Khi sư phụ giảng đạo, Đại Hắc luôn bên cạnh lắng nghe, vô tình hấp thụ một phần pháp lực của sư phụ. Chó đen vốn đã là vật trừ tà, huống hồ Đại Hắc còn là linh thú bảo vệ gia đình. Ông hãy mang nó về. Những tà ma chắc chắn không dám lại gần, đảm bảo cho nhà cửa bình an vô sự. Ông nội tôi vừa nghe liền cảm kích vô cùng, cảm ơn rối rít.

Khi ông đến Thanh Phong quan, con chó đen lớn ấy bất ngờ đứng dậy, trông nó như một con chó quê bình thường, nhưng khi đứng lên lại cao lớn như một con bê. Đôi mắt phát ra ánh sáng vàng, tuy là chó nhưng lại toát lên khí thế hùng dũng như hổ. Ông nội không kìm được mà thốt lên: "Thật là một thần khuyển." Dường như nghe hiểu lời của tiểu đạo sĩ, Đại Hắc thấy ông nội từ trong nhà bước ra liền từ tốn đi theo ông mà không hề cưỡng ép. Sự thông minh của con chó khiến ông nội kinh ngạc. Ông đưa nó về nhà, nó ngẩng cao đầu đầy oai nghiêm.

Trong nhà vốn có vài con chó dữ, thường cậy thế chủ nhà để hung hăng, nhưng khi Đại Hắc vào sân, chúng lập tức lăn ra đất tỏ vẻ quy phục, không còn chút hung hăng nào. Ông nội lập tức coi Đại Hắc như khách quý, dọn lên toàn những món cao lường mỹ vị, nhưng nó không hề động tới. Chỉ khi ông mang lên một ít rau xanh, nó mới ăn vài miếng, khiến ông cảm thán Thầy Tôn quả là người thần kỳ, ngay cả con chó được ông dạy bảo cũng không dính tới đồ tanh, ăn chay giữ sạch mình. Đại Hắc sau khi ăn vài miếng rau xanh và uống chút nước sạch, liền nhanh chóng nhảy lên mái nhà chính của nhà họ Quách, ngồi yên bất động như thần linh chấn giữ.

Từ ngày có đại hắc, không khí trong nhà trở nên yên bình, tà khí cũng không dám bén mạng. Ông nội vui mừng còn góp bạc để tu sửa Thanh Phong quan và lo liệu tang lễ cho Thầy Tôn. Vì thầy là người tu hành, không thể an táng theo cách thông thường nên ông nội đã chôn thầy trong tháp lâm sau Thanh Phong quan, nơi các đạo trưởng đời trước được an nghỉ. Sau ba ngày, thi thể của thầy vẫn không phân hủy, chứng tỏ ông là người tu hành chân chính. Dưới sự chủ trì của tiểu đạo sĩ, thi hại thầy được đặt vào một chiếc vạc lớn, úp xuống đất và dựng một ngọn tháp phía trên để ghi danh thầy và lưu giữ công đức.

Sự việc kết thúc viên mãn. Sau khi an táng Thầy Tôn, ông nội vui vẻ trở về nhà, lòng nhẹ nhõm vì có đại hắc chấn giữ. Từ đó, cuộc sống gia đình ông trở lại bình yên. Ông nội càng ngày càng yêu quý đại hắc, con chó cũng dần thân quen hơn với ông. Ban đêm nó leo lên mái nhà để canh gác, còn ban ngày nếu tâm trạng tốt, nó sẽ chơi đùa với ông một lúc. Điều quan trọng nhất là những nỗ lực của ông với vài người vợ trong gia đình cuối cùng cũng được đền đáp một người đã mang thai. Mời bác sĩ trong thành đến khám, ông được báo rằng khả năng cao đứa trẻ sẽ là con trai.

Lo lắng lớn nhất trong lòng được giải tỏa, tâm trạng ông nội càng thêm phấn khởi. Ngày tháng dần trôi qua, mùa thu mát mẻ cũng nhường chỗ cho cái lạnh mùa đông. Cái bụng của người vợ mang thai ngày càng rõ rệt. Đại Hắc vẫn tiếp tục làm nhiệm vụ thưởng nhật, ban đêm trèo lên mái nhà canh gác. Một ngày nọ, vài tên vô công dỗi nghệ trên phố nhìn thấy đại hắc nhô đầu ra khỏi tường nhà họ Quách. Chúng thèm thuồng bàn nhau cách bắt con chó. Một tên lấy cung tẩm độc lên mũi tên rồi ẩn nấp trong bóng tối bắn trúng đại hắc. Con chó ngã xuống đất, dù bị chúng tên độc, nó không rên rỉ mà lập tức lao vào bọn chúng.

Nhưng độc tố trên mũi tên quá mạnh, chỉ sau vài bước, độc đã thấm vào tim khiến Đại Hắc không thể đứng lên nữa. Những con chó giữ nhà trong sân nghe tiếng động liền sủa ầm ĩ đánh thức mọi người trong nhà. Nhưng khi người hầu kiểm tra, họ không phát hiện có kẻ trộm và cũng không để ý đến đại hắc. Đến sáng, ông nội thức dậy, phát hiện đại hắc biến mất. Giữa trời đông lạnh giá, ông toát mồ hôi lạnh, lo lắng khôn nguôi. Ông không chỉ coi Đại Hắc là thần khuyển bảo vệ gia đình mà còn xem nó như anh em.

Khi tìm kiếm quanh nhà, ông phát hiện một vệt máu trên mái nhà, hiểu rằng Đại Hắc đã gặp nạn. Ông vô cùng đau buồn, lập tức ra lệnh cho mọi người tìm kiếm, hứa thưởng trăm lượng bạc cho ai cung cấp manh mối. Trong khi đó, bọn trộm đã đưa đại hắc về, lột ra, nấu thịt và nhậu nhẹt với một chai rượu rẻ tiền.

Khi ông nội dẫn người đến nơi, bọn chúng vẫn đang say khướt. Nhìn thấy bộ da chó treo trên tường, xương vương vãi dưới đất và nồi thịt chó nguội lạnh, ông nội bật khóc nức nở, đau đến mức thổ huyết. Người hầu xối nước lạnh đánh thức bọn trộm và ông dùng roi quất chúng tới tấp đến mức ra thịt chúng rách nát. Nếu không được người hầu can ngăn, ông có lẽ đã đánh chết chúng.

Sau khi hành hạ một trận, ông chói bọn trộm và giao cho quan phủ, yêu cầu xử lý nghiêm khắc. Dù tội trộm chó không đáng phải trả giá bằng mạng sống, nhưng với vị thế của ông nội, các quan không dám làm trái, kết án chúng vì tội trộm cắp tống giam vọng ngục. Tuy vậy, gia đình bọn trộm khóc lóc van xin tha thứ, dân làng thì trách móc ông nội cho rằng chỉ là một con chó, việc đánh bọn trộm đã là quá đủ, không cần đưa vào ngục. Nghe những lời này, ông nội vừa giận vừa bất lực, chỉ có thể mắng lớn, "Chó là loại trung thành, làm tròn bổn phận bảo vệ nhà cửa.

Nó là bạn đồng hành của con người, có ơn với ta, các người sao có thể nhẫn tâm như vậy?" Giết chó để ăn thịt khác gì giết người. Lời nói của ông nội gây tranh cãi lớn, nhưng thời đó người dân không mấy hiểu biết. Hơn nữa, chuyện không xảy đến với ai thì khó khiến người đó đồng cảm. Người ngoài nói ra nói vào, đa số cho rằng ông làm quá, khiến ông phẫn nộ đến mức lại thổ huyết và ngất xỉu. Người hầu vội vàng gọi thầy thuốc. Đến tối ông nội mới tỉnh lại. Nhưng khi nghĩ đến hình dáng hiền lành và trung thành của Đại Hắc ngày xưa, lòng ông lại tràn đầy nỗi buồn.

Nửa đêm, những con chó trong sân bất ngờ sủa loạn, nhưng chúng chỉ sủa vài tiếng rồi đột nhiên nằm rạp xuống đất, run rẩy. Nhìn thấy cảnh tượng ấy, ông nhớ đến ngày Đại Hắc bước vào nhà và cho rằng linh hồn của Đại Hắc đã quay lại. Ông vội dẫn người ra ngoài để chào đón, mong được nhìn thấy nó lần cuối.

Khi mở cổng, ông và mọi người kinh hoàng. Trước mắt họ là một nhóm lớn chồn vàng, hoàng ly, tất cả mặc đồ tan, khóc than thảm thiết khiết. Dẫn đầu là một con chồn vàng già lông trắng. Nó dùng giọng người trừ mắng, "Gia đình cháu ta nể tình ngươi đã tặng phú quý và giúp cha mẹ ngươi tu hành. Thế mà ngươi tuyệt tình báo ân bằng oán, nghe lời người khác mà thiêu sống cả gia đình cháu ta. Giờ ngươi mất một con chó đã nổi cơn thịnh nộ, còn cháu ta bị ngươi thiêu chết thì nợ máu này làm sao trả đây? Lời trách mắng khiến ông nội hiểu rõ kẻ đến là ai.

Ông vốn đã yếu vì hai lần thổ huyết, nay lại tức giận đến mức ngất lịm. Người hầu sợ hãi trước cảnh tượng bầy chồn vàng, lập tức đưa ông vào nhà và đóng chặt cổng. Dù vậy, bảy chồn không tấn công mà chỉ quỳ trước cửa khóc than. Đến sáng ông nội tỉnh lại, gọi gia đình tới và nói: "Đại hắc đã mất, mạng ta cũng chẳng còn lâu, nợ máu có chủ, sau khi ta qua đời, bầy chồn vàng sẽ tự rời đi. Các con hãy bán ra sàn, rời khỏi nơi này, tìm một nơi vắng vẻ sinh con, nuôi lớn nó, để dòng họ Quách con người nối dõi." Nghe lời ông, các bà vợ khóc nức nở.

Một người đề nghị sao không mời tiên trưởng của Thanh Phong quan đến giúp vượt qua hoạn nạn này? Ông nội đáp: "Ta cũng nghĩ vậy, nhưng tiểu đạo trưởng pháp lực yếu ớt, khó đối phó với bây chôn này. Người tài giỏi như Thầy Tôn, tài năng xuất chúng, muôn người có một, lại cần duyên lành mới gặp được." Hôm sau, ông nội dẫn người đến Thanh Phong quan tìm tiểu đạo sĩ.

Khi nghe chuyện, đạo sĩ nói: "Đại hắc chỉ cần ở nhà họ Quách 3 năm là đủ. Bảy chồn vàng dù có hận cũng chỉ hại người trong thời gian đó. Sau 3 năm ân oán sẽ chấm dứt. Hôm qua nghe tin đại hắc gặp nạn, tôi biết bầy chồn sẽ tìm đến, nhưng tôi lực bất tòng tâm, pháp lực yếu kém, không thể đối phó với chúng. Sư phụ tôi từng nói, mèo khóc tan, chồn vàng chịu tang đều là mối hận không đội trời chung. Một khi chồn vàng đến nhà ai khóc đủ bảy ngày, chuyện sẽ không dừng lại ở đó. Vào ngày thứ bảy, nếu tiếng khóc tang của bầy chồn vàng tiếp tục thì chắc chắn sẽ có người chết.

Tiểu đạo sĩ nói: "Nếu sư phụ tôi còn sống, có thể còn cách để hóa giải, nhưng giờ người đã qua đời, tôi dù có lòng cũng lực bất tòng tâm." Nghe vậy, ông nội buồn bã nói: "Có lẽ số mệnh tôi đã định phải gặp kiếp nạn này, chỉ tội nghiệp đại hắc đã chết vì tôi. Tôi vốn là một người thợ mộc nghèo khổ, những năm qua đã sống đủ với vinh hoa phú quý, không còn gì hối tiếc. Giờ tôi trở về chuẩn bị hậu sự.

Sau khi tôi mất, nếu gia đình gặp khó khăn gì, mong đạo trưởng hãy giúp đỡ trong khả năng của mình." Lời ông nội khiến ai nghe cũng rơi lệ. Tiểu đạo sĩ vốn rất kính trọng ông vì ông luôn giữ lời hứa, chăm lo chu toàn mọi việc liên quan đến Thanh Phong quan, cũng không đành lòng nhìn thấy ông tuyệt vọng. Cậu đứng dậy và nói: "Ông chủ Quách, đừng quá đau lòng. Tôi có một cách nhưng không biết liệu có hiệu quả không. Nếu thành công, có lẽ sẽ giúp ông vượt qua được kiếp nạn này." Nghe vậy, ông nội mừng rỡ khẩn cầu tiểu đạo sĩ giải thích. Cậu nói: "Tối qua khi quan sát bên ngoài phủ nhà họ Quách, tôi thấy bầy chồn vàng định tấn công nhưng bị ngăn lại ở cổng.

Chúng chỉ còn cách khóc tan, có lẽ trong phủ của ông có vật gì đó khiến chúng sợ hãi. Nếu tìm ra vật này và dùng nó để bảo vệ, có thể cứu mạng ông." Ông nội không biết chuyện gì đã xảy ra vào tối qua, lập tức tin tưởng lời tiểu đạo sĩ. Ông dẫn cậu về nhà gọi người hầu mang xẻng và dụng cụ để đảo xới khu vực trước cổng. Từ sáng đến tối, họ đào bới khắp nơi nhưng không tìm thấy gì.

Khi ông hỏi lý do, tiểu đạo sĩ trầm tư, cảm thấy thất bại và nói: "Có lẽ tôi đã bỏ sót điều gì đó." Cậu lấy la bàn và đi vòng quanh cổng, quan sát kỹ lưỡng dưới ánh trăng. Cuối cùng cậu nhìn lên cánh cửa và thấy hai vòng cửa chạm khắc hình thú, lập tức cậu reo lên, "Tôi hiểu rồi, ông chủ Quách, hãy nhìn vào hai vòng cửa này. Đây là phù thú, một kiểu trang trí truyền thống dùng để trấn tà. Hai con thú này được trạm khắc hình dao đổ, một trong chín người con của rồng nổi tiếng với khả năng trấn giữ cửa. Cậu giải thích thêm, ban ngày dao đồ thường nhắm mắt nhưng khi trăng lên vào ban đêm, chúng mở mắt.

Điều này giải thích tại sao bảy chồn vàng không dám xông vào nhà. Chúng sợ chính hai phù thú này chứ không phải bất kỳ thứ gì dưới đất. Ông nội vốn là một thợ mộc chưa từng để ý đến chi tiết nhỏ như vậy, nhưng khi nghe lời tiểu đạo sĩ, ông nhận ra rằng chính hai phù thú này đã cứu gia đình mình. Vào ngày thứ bảy, nếu tiếng khóc tang của bầy chồn vàng tiếp tục thì chắc chắn sẽ có người chết. Tiểu đạo sĩ nói: "Nếu sư phụ tôi còn sống, có thể còn cách để hóa giải, nhưng giờ người đã qua đời, tôi dù có lòng cũng lực bất tòng tâm."

Nghe vậy, ông nội buồn bã nói: "Có lẽ số mệnh tôi đã định phải gặp kiếp nạn này, chỉ tội nghiệp đại hắc đã chết vì tôi. Tôi vốn là một người thợ mộc nghèo khổ, những năm qua đã sống đủ với vinh hoa phú quý, không còn gì hối tiếc. Giờ tôi trở về chuẩn bị hậu sự.

Sau khi tôi mất, nếu gia đình gặp khó khăn gì, mong đạo trưởng hãy giúp đỡ trong khả năng của mình." Lời ông nội khiến ai nghe cũng rơi lệ. Tiểu đạo sĩ vốn rất kính trọng ông vì ông luôn giữ lời hứa, chăm lo chu toàn mọi việc liên quan đến Thanh Phong quan, cũng không đành lòng nhìn thấy ông tuyệt vọng. Cậu đứng dậy và nói: "Ông chủ Quách, đừng quá đau lòng. Tôi có một cách nhưng không biết liệu có hiệu quả không. Nếu thành công, có lẽ sẽ giúp ông vượt qua được kiếp nạn này." Nghe vậy, ông nội mừng rỡ khẩn cầu tiểu đạo sĩ giải thích. Cậu nói: "Tối qua khi quan sát bên ngoài phủ nhà họ Quách, tôi thấy bầy chồn vàng định tấn công nhưng bị ngăn lại ở cổng.

Chúng chỉ còn cách khóc tang. Có lẽ trong phủ của ông có vật gì đó khiến chúng sợ hãi. Nếu tìm ra vật này và dùng nó để bảo vệ, có thể cứu mạng ông." Ông nội không biết chuyện gì đã xảy ra vào tối qua, lập tức tin tưởng lời tiểu đạo sĩ. Ông dẫn cậu về nhà, gọi người hậu mang xẻng và dụng cụ để đảo xới khu vực trước cổng. Từ sáng đến tối, họ đào bới khắp nơi nhưng không tìm thấy gì.

Khi ông hỏi lý do, tiểu đạo sĩ trầm tư, cảm thấy thất bại và nói: "Có lẽ tôi đã bỏ sót điều gì đó." Cậu lấy la bàn và đi vòng quanh cổng, quan sát kỹ lưỡng dưới ánh trăng. Cuối cùng cậu nhìn lên cánh cửa và thấy hai vòng cửa chạm khắc hình thú. Lập tức cậu reo lên, "Tôi hiểu rồi, ông chủ Quách, hãy nhìn vào hai vòng cửa này. Đây là phủ thú, một kiểu trang trí truyền thống dùng để trấn tà. Hai con thú này được trạm khắc hình dao đồ, một trong chín người con của rồng nổi tiếng với khả năng trấn giữ cửa. Cậu giải thích thêm, ban ngày dao đồ thường nhắm mắt, nhưng khi trăng lên vào ban đêm, chúng mở mắt.

Điều này giải thích tại sao bảy chồn vàng không dám xông vào nhà. Chúng sợ chính hai phù thú này chứ không phải bất kỳ thứ gì dưới đất. Ông nội vốn là một thợ mộc, chưa từng để ý đến chi tiết nhỏ như vậy, nhưng khi nghe lời tiểu đạo sĩ, ông nhận ra rằng chính hai phù thú này đã cứu gia đình mình. Tiểu đạo sĩ tiếp tục giải thích, dao đổ là một trong chín người con của rồng, nổi tiếng với hình dạng giống ốc sên và khả năng trấn giữ cửa. Thông thường, phù thú được làm bằng kim loại để tăng thêm sức mạnh, nhưng cặp phù thú trên cửa nhà ông lại là sản phẩm thủ công được trạm khắc tinh xảo.

Điều đặc biệt là ban ngày dao độ nhắm mắt nhưng khi ánh trăng chiếu vào ban đêm, chúng mở mắt, tạo ra một luồng uy lực khiến những kẻ tà ma không dám bén mạng. Nghe đến đây, ông nội cảm thấy vừa kinh ngạc vừa nhẹ nhõm. Ông nhìn lên hai vòng cửa, lần đầu tiên chú ý đến chi tiết nhỏ này sau bao năm sống trong ngôi nhà của mình. Ông vốn là thợ mộc nhận ra rằng các phủ thú này không chỉ là tác phẩm nghệ thuật mà còn mang một ý nghĩa tâm linh sâu sắc. Tiểu đạo sĩ nói thêm, nếu muốn đảm bảo an toàn lâu dài, ông có thể gia cố thêm sức mạnh cho cặp phù thú này hoặc tìm cách bảo quản chúng thật tốt.

Những vật phẩm này không chỉ trừ tả mà còn bảo vệ gia đình khỏi những điều không may. Ông nội cảm ơn tiểu đạo sĩ rối rít và lập tức ra lệnh kiểm tra kỹ lưỡng toàn bộ cửa chính, đảm bảo rằng cặp phủ thú sẽ không bị hư hại. Tiếng khóc của bảy chồn vàng bên ngoài từ nhỏ dần rồi biến mất. Nhờ sự thông minh và tận tâm của tiểu đạo sĩ, gia đình ông nội vượt qua được kiếp nạn, giữ vững được sự yên bình trong ngôi nhà của mình. Về việc Tượng Giao Đồ cũng đã từng được điêu khắc, mỗi lần điêu khắc đều là Tượng Giao Đồ mở mắt, vì vậy chuyện tiểu đạo đồng ban ngày nhắm mắt, ban đêm mở mắt cũng không chắc chắn lắm.

Có thể Tiểu Đạo Đồng đã nhớ nhầm chăng? Nhưng ai ngờ tiểu đạo đồng lại quả quyết lắc đầu nói: "Lúc con đi qua đây, con chú ý đến tượng giao đồ, khi đó phát hiện tượng đang nhắm mắt cảm thấy rất kỳ lạ, chắc chắn con không nhớ sai."

"Ông chủ Quách, ông hình như xuất thân từ nghề Mộc phải không? Ông đã từng nghe về Lỗ Ban Thư Thiếu một môn chưa?" Cụ Tổ gật đầu. Đối với việc Lỗ Ban Thư Thiếu một môn, cụ dĩ nhiên biết vào nghề bái sư chính là được thầy ban cho bữa cơm.

Khi Cụ Tổ nhập môn, cụ bái dưới cửa của sư phụ Trần ở Thành Tây học nghề mộc. Dù việc học nghề mộc là một nghề vất vả nhưng cha mẹ Cụ Tổ vẫn dốc hết tích cóp trong nhà, dập đầu dâng trà mới được nhập môn. Người xưa có câu học trò, học ba năm tự lập, Cụ Tổ học nghề ba năm dưới tay sư phụ Trần, sư phụ không lấy một đồng.

Sau khi học xong, cụ làm không công cho sư phụ hai năm để trả công dạy dỗ. Trong năm đó, sư phụ phải lo ăn uống, sinh hoạt cho đệ tử. Người nào tốt bụng còn cho chút tiền tiêu vặt để giúp gia đình, nhưng cho là tình nghĩa, không cho cũng là đúng bổn phận. Sư phụ Trần là người thiện tâm, hai năm sau khi thành nghề, ông còn mỗi tháng cho Cụ Tổ tám văn tiền, dù không nhiều nhưng cũng đủ để nhà không đói.

Khi học nghề với sư phụ Trần, sư phụ từng nói với các đệ tử, "Đừng coi thường nghề mộc, trong đó có nhiều bí ẩn lắm. Nghề Mộc còn phân thành Mộc đại và Mộc Tiểu. Những thợ giỏi thì tu sửa hoàng cung, chế tạo long sảng cho hoàng đế, phục vụ hoàng thân quốc thích, điều hòa âm dương ngũ hành, sửa chữa nhà cửa. Ngay cả cổng lớn mặt tiền cũng phải tuân theo đạo âm dương ngũ hành. Sư phụ Trần còn kể việc xây dựng cố cung tập hợp thợ giỏi khắp thiên hạ, sử dụng 81 phong thủy cục, trong đó không chỉ có công phu của phong thủy sư mà còn có kỹ nghệ của thợ mộc.

Con người sống cả đời lúc sống ở Dương Trạch, chết ở Âm Trạch. Sau khi chết coi trọng phúc ấm. Con cháu sống thì nhà cửa bình an, mọi nơi ổn định. Một căn nhà Dương Trạch tốt là điều vô cùng quan trọng. Nghề Mộc thở Lỗ Ban làm tổ sư ra. Cuốn sách này chính là do Lỗ Ban viết. Lỗ Ban Thư chính xác là hai phần. Phần đầu là kỹ nghệ mộc chính thống, quá trình chế tạo đồ dùng gia đình. Nói theo cách hiện đại thì đó là một Bách Khoa Thư về nghề Mộc Kèm hình ảnh minh họa. Phần thứ hai của Lỗ Ban Thư được gọi là Thiếu một môn.

Sư phụ Trần từng nói: "Ai lĩnh hội được cả hai phần sách này? Không chỉ là thợ mộc mà còn là một pháp sư." Khi sư phụ kể chuyện, các đệ tử nghe rất say xưa. Có người hỏi sư phụ Trần rằng ông có biết phép dẫn sinh thuật của Thiếu một môn hay không? Sư phụ Trần lắc đầu nói rằng mình không biết.

Cụ Tổ khi còn trẻ từng hỏi sư phụ Trần liệu chuyện đó là thật hay chỉ là truyền thuyết. Cụ bị sư phụ trách mắng vì không tôn trọng tổ sư gia, bị phạt một ngày không được ăn cơm.

Tối hôm đó, sư phụ Trần tìm Cụ Tổ trò chuyện, giải thích rằng bất kể pháp thuật của tổ sư gia có thật hay không, điều đó cũng là để lại cho thế hệ sau một con đường. Nghề mộc vốn là nghề vất vả, nghèo khó, những người làm nghề thường thuộc tầng lớp đáy xã hội hay bị chậm tiền công, không được tôn trọng. có pháp thuật của tổ sư gia bảo hộ, người ngoài cũng không dám đắc tội thợ mộc, sợ thợ mộc tức giận mà dùng thuật khiến nhà cửa không yên. Điều đó giúp thợ mộc có thêm chỗ dựa. Nhờ những lời giảng giải của sư phụ Trần khi còn học nghề.

Khi tiểu đạo đồng hỏi về Khuyết Nhất Môn, Cụ Tổ dĩ nhiên là hiểu rõ trong lòng. Nhưng cụ cũng nói: "Ta suy nghĩ rằng kia gọi là Khuyết Nhất Môn chắc chắn giống như sư phụ Trần đã nói, là tổ sư gia để lại chút uy thế cho hậu bối. Chuyện này không nhất định là thật, nhưng nếu thực sự học được pháp thuật, có thể làm thầy phong thủy, ai lại đi làm cái nghề mộc nghèo khổ này?" Tiểu đạo đồng phản bác, "Lão gia Quách, lời này của ông sai rồi. Con người không phân cao thấp, nghề nghiệp không phân sang hèn. Nghề mộc là một nghề lao động nhưng những khó khăn và gian khổ mà họ phải chịu không phải ai cũng biết.

Mỗi ngành nghề đều có quy tắc và truyền thống riêng, cần được tôn trọng. Khi sư phụ còn sống, ngài từng nói, người đời kính trọng chúng ta không phải vì bản thân chúng ta mà là kính trọng thần linh. Nhưng những người tu hành chúng ta không tu thần linh mà tu chúng sinh. Chúng sinh trong đời này không ai thoát khỏi cơm ăn, áo mặc, nhà ở và đi lại, trong đó cũng chứa đựng tri thức vô tận. Chỉ nói đến chuyện tượng giao đồ nhắm mắt mở mắt, sư phụ ta chắc chắn không làm được. Hơn nữa, đây không phải là bùa chú của đạo gia, nhưng lại có thể ngăn chặn được những linh vật có ý đồ xấu.

Lão gia Quách, lẽ nào ông vẫn không tin vào thuật của Lỗ Ban? Theo ta, cơ hội sống duy nhất của ông chính là tìm được người điêu khắc tượng giao đổ, hẳn là một cao nhân không kém sư phụ ta. Nếu tìm được người đó, có lẽ sẽ giải được nguy nan hiện tại của ông. Nghe lời của tiểu đạo đồng, Cụ Tổ lập tức chú ý, gọi người hầu đến hỏi về việc sửa cổng lớn năm đó. Thời điểm xây dựng Đại Trạch Quách gia, Cụ Tổ bận việc làm ăn bên ngoài, mọi việc trong ngoài đều do quản gia Ngô phụ trách. Quản gia Ngô Trỉ nói: "Những người thợ đó đều được mời từ tỉnh thành, làm xong việc thì nhận tiền rồi rời đi, trong thời buổi loạn lạc này khó mà tìm được."

Thấy con đường sống mà tiểu đạo đồng chỉ dẫn bị cắt đứt, trời cũng dần tối. Nghĩ đến tối nay lũ hồ ly vàng lại sẽ đến trước cửa nhà khóc tan, vài hôm nữa chính mình cũng sẽ mất mạng.

Cụ Tổ không khỏi đau lòng. Lúc này người vợ đầu của Cụ Tổ bà Lưu đến tìm và nói rằng bà biết địa chỉ của người thợ cả dẫn đội. Đêm đó, Cụ Tổ sai người đi tìm ngay lập tức, hy vọng có thể tìm được chút manh mối. Mọi người thì thầm bàn tán, thắc mắc tại sao bà Lưu lại có mối liên hệ với những người thợ quê mùa như vậy, thậm chí còn biết địa chỉ của họ. Có người xì xào rằng trong xã hội phong kiến, phụ nữ phải tuân thủ tan tọng tứ đức, không được nói chuyện với đàn ông lạ, huống chi là có mối quan hệ sâu xa.

Thấy những lời bản tán nhàn nhí, Cụ Tổ tức giận mắng mọi người, nhưng cũng hỏi bà Lưu tại sao lại quen biết người thợ cả. Lúc này bà Lưu mới kể rõ ngọn nguồn.

Năm đói thợ xây Đại Trạch Quách gia do một người họ Mao dẫn đầu. Ông Mao là một lão già dâu cá trê. Khi xây bể hoa trong trạch, vì một người thợ trẻ làm sai, mái tranh bị hư họng một chút, lỗi không lớn, ông mau tự mình sửa lại rất nhanh. Nhưng khi kết toán tiền công, quản gia Ngô lại bới móc lỗi này, cắt xén phần lớn tiền công của cả đội thợ. Ông Mao dẫn đội thợ cầu xin hết mực, nhưng quản gia Ngô vẫn ngang ngược, suýt nữa còn xảy ra xung đột. Đúng lúc đó, bà Lưu đi ngang qua, hỏi rõ nguyên nhân. Ông Mao và nhóm thợ quỳ lạy bà Lưu, tình nguyện chịu cắt giảm một phần tiền công.

Nhưng khẩn cẩu không cắt giảm quá nhiều bởi họ đều có gia đình khó khăn cần chu cấp. Bà Lưu biết Cụ Tổ cũng xuất thân từ nghề mộc, từng nghe cụ kể về những năm tháng gian khổ và thường xuyên bị trừ tiền công một cách oan uổng, đã đồng cảm với họ. Đều là thợ mộc, dù không trung môn phái nhưng vẫn là cùng nghề. Vợ cả của Cụ Tổ bà Lưu vì thương cảm cho sự khó khăn của mọi người đã yêu cầu quản gia không được khấu trừ tiền công mà phải thanh toán đầy đủ theo thỏa thuận. Thậm chí bà còn tặng thêm chút lộ phí cho mọi người. Ông Mao và nhóm thợ cảm kích không ngớt.

Bà Lưu nói với Cụ Tổ, "Năm đó khi tôi tiễn ông Mao và nhóm thợ rời đi đến cửa nhà, ông Mao có nói rằng Quách phủ rất nhân đức. Họ là những thợ thuyền quê mùa, dù cảm kích vô cùng nhưng không biết lấy gì báo đáp. Ông ấy xin tôi một ít chu sa." Sau đó ông dùng Chu Sa để chấm vào mắt tượng Daiao Đồ ở cửa, nói rằng Tượng Giao Đồ là con rồng, phải vẽ mắt thì mới thành rồng, chúc phúc cho Quách phủ Hưng Thịnh. Nếu sau này cần đến họ, hãy cử người đến tìm ông ấy ở đạo Hoa Hạng tỉnh thành."

Tiểu Đạo Đồng nghe xong liền nói: "Vẽ mắt rồng quả nhiên là cao tay. Lão gia quách, nếu tôi đoán không nhầm, năm đó nếu không nhờ phu nhân đức trả đủ tiền công cho ông Mao và nhóm thợ thì tượng giao đồ không được điểm mắt. Có lẽ Quách phủ đã không bình yên. Đây chính là thuật diễn thánh bao gồm hỉ Yến và Ngộ Yến. Nếu làm sai sẽ dẫn đến tai họa. Ông Mao chắc chắn là một cao nhân trong nghề. Hãy mau sai người đi tìm ông ấy.

Cụ Tổ nhìn quản gia Ngô tức giận quát mắng. Quản gia Ngô sợ hãi, lập tức quỳ xuống. Việc khấu trừ tiền công năm đó, Cụ Tổ hoàn toàn không hay biết. Quản gia Ngô vì muốn giữ lại tiền cho mình mà làm việc sai trái này, chắc chắn cũng không phải lần đầu. Dù quản gia Ngô là người thân thích, Cụ Tổ vẫn nổi giận mắng, "Ta đã đối xử không tệ với ngươi, luôn dặn dò ngươi phải rộng lượng và nhân đức, thế mà ngươi lại làm ra chuyện này, suýt chút nữa khiến gia đình ta gặp đại họa. May mà phu nhân có lòng tốt, nếu không hậu quả không thể lường được."

Cụ Tổ sai quản gia Ngô lập tức đi đến đạo Hoa Hàng tìm ông Mao, cúi đầu nhận lỗi. Nếu ông Mao đồng ý giúp, Cụ Tổ sẽ bỏ qua, nếu không Cụ Tổ sẽ tra xét sổ sách và giao quản gia Ngô cho quan phù xử lý. Để đảm bảo, Cụ Tổ nhờ bà Lưu viết một bức thư giải thích ngọn ngành. Quản gia Ngô vội vã lên đường. Trong khi chờ đợi, ban đêm, hàng trăm con hồ ly vàng lại đến trước cửa khóc tang.

Lúc này quản gia Ngô đã tìm đến đạo Hoa Hạn, một khu phố nơi các thợ thủ công chú ẩn. Nhờ sự hướng dẫn của dân cư, ông tìm được nhà ông Mao. Gặp mặt ông Mao, quản gia Ngô lập tức quỳ xuống nhận lỗi, trình bày bức thư của bà Lưu. Ông Mao lúc đầu không nhớ ra, nhưng khi đọc thư và nghe quản gia Ngô kể, ông đã nhận ra sự việc năm xưa. Ông nói: "Thì ra là quản gia nhà Quách phủ.

Sau khi bị ông làm khó dễ, tôi đã giữ lại một chút, làm cho tượng giao đồ nhắm mắt. Nếu không điểm mắt, Quách phủ sẽ gặp đại hỏa, đầu tư thất bại, không đầy ba năm sẽ phá sàn. May nhờ phu nhân nhân đức, trước khi rời đi, tôi đã dùng Chu Sa để vẽ mắt rồng, biến tượng giao đổ thành thần thú bảo vệ cửa, trừ phi là thần linh Quách phủ thở cúng, nếu không sẽ không ai bước vào được. Nghĩ đến ân đức của phu nhân, tôi sẽ đi cùng ông. Ông mau theo quản gia Ngô trở về Quách phủ. Đến nơi trời đã sáng, Cụ Tổ vội vã mời rượu tiếp đãi kể lại mọi chuyện.

Ông mau than thở, "Lão gia Quách, việc ông cứu gia đình hồ ly năm xưa là có nhân quả. Vinh hoa phú quý của ông là đổi lấy bằng hương khói, nhưng cũng là một phần của nhân quả. Hồ ly vàng không thông báo trước, đó là sai sót của chúng, nhưng ông cũng không thể vì vậy mà hại chết cả một gia đình hổ ly tu hành. Đây chính là căn nguyên của bi kịch.

Cụ Tổ nhận lỗi, mọi lỗi lầm đều do tôi, nhưng giờ nói gì cũng đã muộn, chỉ mong ông mau cứu mạng tôi." Ông Mao đáp: "Tôi không phải người trong đạo môn, không đủ sức chống lại pháp thuật nhân gian. Theo lý mà nói, chuyện này tôi không nên và cũng không thể quản. Nhưng năm đó, nhờ phu nhân rộng lượng thanh toán tiền công mà những anh em nghèo khổ dưới tay tôi mới có thể sống qua ngày, không đến mức chết đói. Chính điều đó đã khiến tôi vướng vào nhân quả với lão gia Quách. Nay lão gia gặp nạn, tôi không thể không giúp." Nói xong, ông Mao lấy từ túi vải ra một vật đặt lên bản.

Cụ Tổ vốn xuất thân thợ mộc lập tức nhận ra đó là thước Lỗ Ban, hay còn gọi là Lỗ Ban doanh tạo thước. Thước giải 13 xích, bên trong có cơ quan kết nối, khi mở ra chia thành bốn phần. Ngoài các vạch đo lường, trên thước còn khác tám chữ: tài, bệnh, ly, dị, quan, kiếp, hại, phúc.

Cụ Tổ biết rằng ngoài chức năng đo lượng, tám chữ này được dùng để đo phong thủy khi xây dựng nhà cửa, giúp tránh hung hướng cát. Tuy nhiên, cách sử dụng chính xác của tám chữ này, sư phụ Trần trước đây không dạy kỹ, có lẽ chính ông cũng không biết. Thước Lỗ Ban không chỉ là công cụ mà còn là pháp khí do tổ sư gia để lại, trên thông thần linh, dưới trừ yêu ma. Đây chính là bảo vật quý giá nhất của người thợ mộc.

Lão gia Quách không hiểu Thuật Khuyết Nhất Môn nên dĩ nhiên không biết được sự huyền bí trong đó. Ông đã từng nghe nói về việc đạo sĩ Mao Sơn dùng nếp và dây mực để trấn áp cương thi chưa? Ông có từng nghĩ tại sao đạo sĩ Mao Sơn lại sử dụng dây mực không? Ông mau giải thích, chẳng lẽ dây mực của nghệ mộc chúng ta cũng là một pháp khí trừ tả? Chính xác là vậy.

Năm đó thiên tai liên tiếp xảy ra, dân chúng lầm than, tổ sư gia nhận ra tai họa do Hán Bát gây ra, liền dạy dân chúng cách dùng cọc gỗ để trấn áp Hán Bát. Đến nay, trên khắp đất nước, nơi nào gặp hạn Hán đều giữ truyền thống dùng cọc gỗ để trấn Hán Bát, chính là sử dụng pháp thuật của tổ sư ra.

Sau khi đánh bại Hán Bát, nếu đem thiêu chết nó, độc khí sẽ lan ra và hại chết nhiều người. Tổ sư gia đã dùng dây mực để phong ấn Hán Bát. Pháp thuật này sau đó truyền đến tay các đạo sĩ Mao Sơn, biến dây mực của chúng ta thành pháp khí trấn áp bậc nhất của họ. Mọi người đều cho rằng đạo sĩ Mao Sơn lợi hại, nhưng đã bao giờ nghĩ tại sao họ lại dùng đồ của thợ mộc chưa? Môn đồ của Lỗ Ban đi lại giang hồ luôn khiêm nhường, không muốn phô trương điều này.

Cụ Tổ, dù là thợ Mộc Chính Tông, nghe những lời của ông Mao, vẫn cảm thấy như nghe chuyện thần tiên, nhưng cụ cũng hiểu, ông Mao chắc chắn đã học được Khuyết Nhất Môn trong truyền thuyết. Cụ lập tức nâng chén nói: "Có ông mau, mạng hèn của tôi chắc chắn được cứu. Ông cứ ra giá, chỉ cần tôi vượt qua được kiếp nạn này, tôi sẽ không tiếc gì." Ông mào uống cạn chén rượu rồi nói: "Đã là thợ mộc, chúng ta là đồng môn, sao lại nói chuyện tiền bạc? Chuyện này cứ để tôi lo. Chiếc thước Lỗ Ban này là do sư phụ tôi truyền lại, đã qua ba bốn đời.

Tôi luôn mang theo bên mình. Dù có đi qua bãi tha ma đầy yêu ma quỷ quái vào ban đêm, chúng cũng không dám đến gần. Ngày mai nếu hồ ly vàng lại đến khóc tan, tôi sẽ giơ thước Lỗ Ban lên, nhất định đánh cho chúng thần hồn tan nát." Nói xong, sau vài chén rượu và những lời tâng bốc, ông Mao đã say, Cụ Tổ liền sắp xếp phòng cho ông nghỉ ngơi.

Khi ông Mao tỉnh dậy, mặt trời đã ngả bóng. Cụ Tổ lại chuẩn bị rượu ngon và món ăn thịnh soạn để đãi ông. Ông Mao ăn xong biết rằng mình tửu lượng kém nên không uống thêm rượu để không làm ảnh hưởng đến việc trừ tạ vào ban đêm. Sau bữa ăn, Tiểu Đạo Đồng đến Quách phủ, tò mò hỏi về thuật kKhuyết Nhất Môn. Ông mau giải thích, "Thước Lỗ Ban để trấn áp Tà Ma, dây mực để trấn áp cương thi, tất cả đều từ môn phái Lỗ Ban mà ra. Ta từng nghe sư phụ kể về điều này, đúng là có thật, nhưng ta cũng nghe sư phụ nói rằng người của môn phái Lỗ Ban không chỉ sử dụng pháp khí mà còn thông thạo một loại pháp thuật đặc biệt.

Không biết điều đó có đúng không? Ông Mao đáp: "Sư phụ, ngươi cũng hiểu biết đấy, nhưng chỉ biết một mà không biết hai. Pháp thuật của Lỗ Ban không giống như đạo sĩ dùng bùa chú, Lỗ Ban phái tạo ra những vật dụng hỗ trợ. Ví dụ, ta làm cho lão gia quách một chiếc ghế thái sư, bên trên khắc hoa văn.

Khi ghế được sử dụng, người ta không phát hiện điều gì, nhưng nếu tháo ghế ra và đặt trên mặt đất sẽ thấy một lá bùa hoàn chỉnh. Hoặc khi ta xây một giả sơn cho Quách phủ, giả sơn đó chính là lá bùa hay là một cánh cửa, cánh cửa đó cũng là bùa. Pháp thuật của Lỗ Ban phái nằm trong từng công việc mà chúng ta làm, người ngoài không thể nhìn ra được." Nói xong, ông mau nhìn chiếc ghế thái sư Cụ Tổ đang ngồi và nhận ra rằng chiếc ghế đó chính là do ông làm ra năm xưa. Ông mau lấy chiếc ghế thái sư từ Cụ Tổ, dùng công cụ của mình nhanh chóng tháo rời và trải những tấm gỗ xuống sàn.

Mọi người đều ngỡ ngàng, bởi dưới sàn hiện lên một lá bùa đạo gia, chính là bùa an thần chấn trạch. Tiểu đạo đồng nhận ra điều này, liền chắp tay bái phục. Môn phái Lỗ Ban quả thật cao thâm khó lường, tôi vô cùng khâm phục.

Cụ Tổ cũng hết sức kính trọng ông Mao, nghĩ thầm nếu năm xưa mình bái sư theo ông Mao, giờ đây đâu phải sợ những hồ ly vàng thành tinh này lại còn bị mất mặt, mất tiền và lo lắng đến mức này. Nhưng sau đó cụ lại cảm thấy may mắn nếu không nhờ bà Lưu giúp đỡ năm đó mà đắc tội với một nhân vật như ông Mao, có lẽ đã chết mà không biết tại sao. Cụ nhớ lời sư phụ Trần từng nói, môn đồ của Lỗ Ban có thể cứu người rất dễ dàng, nhưng muốn hại người thì cũng có vô số cách. Đến tối hồ ly vàng lại xuất hiện trước cửa, khóc tan như những lần trước.

Lúc này ông Mao đã tỉnh diệu, ông tiến hành cúng bái tổ sư Lỗ Ban, sau đó bảo mọi người mở cổng Quách phủ. Ông cầm thước Lỗ Ban trong tay, bước ra ngoài với dáng vẻ đầy uy nghiêm.

Cụ Tổ, tiểu đạo đồng và những người hầu đứng nép bên cửa nhìn trộm. Họ thấy ông mau cầm thước lỗ bàn, khí thế uy nghiêm đối mặt với bảy hổ ly vàng đông đảo. Ông nói lớn, "Ân oán giữa Quách phủ và các ngươi ta đã rõ, nhưng nghĩ đến việc tu hành không dễ dàng, ta khuyên các ngươi hãy tự rút lui, nếu không ta sẽ khiến các ngươi tan biến cả hình lẫn thần." Con hồ ly giả đứng đầu nheo mắt nhìn ông Mao, dùng giọng khàn khản nói: "Hồ tiên ta và Quách Thủ Kiệt có mối thủ không đội trời chung." nhìn ông không có chút đạo hạnh nào, lại dám lớn tiếng can dự vào việc này.

"Mau báo danh môn phái của ông, nếu ta nhận ra sẽ để ông sống, nếu không Quách phủ sẽ có thêm một ngôi mộ mới." Ông mau cầm thước lũa ban, đọc câu chú thước về nhà, người thịnh vượng nghìn lời đáp ứng, vạn lời đều nghe không gọi mà đến. Con hồ ly già khẽ dùng mình bước lên hành lễ và nói: "Xem ra ta không nhìn lầm, quả nhiên là người của môn phái Lỗ Ban." Thấy con hồ ly già đối với ông Mao lịch sự như vậy, Cụ Tổ trong lòng mừng rỡ, nghĩ rằng ông Mao nhất định có thể hóa giải kiếp nạn nay. Nhưng bất ngờ, con hồ ly dạ phát ra một tiếng cười lạnh, chiếc đuôi bạc khẽ rung, từ phía sau bốc lên một làn khói trắng.

Làn khói nhanh chóng lan tỏa, tạo thành một màn xương dày đặt trước cửa Quách phủ, tỏa ra mùi hôi thối nồng nặc. Làn khói trắng bao phủ lấy ông Mao, từ trong đó vang lên tiếng quát lớn của ông: "Hãy thử mà xem." Tiếng động trong khói trắng kêu leng keng, kèm theo tiếng gào thét đau đớn của Hồ Ly cùng những tia sáng đỏ rực chiếu ra.

Cụ Tổ hiểu rằng ông Mao đang giao chiến ác liệt với bầy hổ ly. Cụ muốn chạy ra giúp nhưng chân tay như bị đóng băng. Những người hầu đứng hai bên cũng không dám động đậy. Tiểu đạo đồng nói: "Ông Mao chắc chắn có cách, chúng ta đi ra chỉ tổ thêm phiền." Sau khoảng nửa nén nhang, tiếng động trong khói trắng dần lặng đi.

Khi làn khói tan biến, trước cửa Quách Phù chỉ còn lại một cảnh tượng hỗn loạn, lông vàng và vết máu vương vãi khắp nơi, nhưng không thấy thi thể của Hồ Ly, cũng không thấy bóng dáng ông Mao.

Cụ Tổ nhìn thấy cảnh đó, lòng vừa mừng vì ông Mao an toàn, vừa lo lắng không biết chuyện gì đã xảy ra. Cụ Tổ dẫn mọi người theo dấu vết trên mặt đất để tìm ông Mao. Họ cầm đuốc gọi tên ông Mao băng qua khu phố cổ, đi mãi cho đến khu rừng rậm bên ngoài thành phố. Cuối cùng họ thấy ông Mao với khuôn mặt hơi nhợt nhạt bước ra từ trong rừng. Mọi người súm lại. Ông Mao cầm thước Lỗ Ban trong tay nói: "Bọn hồ ly vàng này không phải là đối thủ của tôi, nhưng chúng rất xảo quyệt. Chúng vừa đi vừa giữ khoảng cách, dẫn dụ tôi đến chân núi rồi bất ngờ chạy sâu vào trong rừng.

Tôi nghi ngờ có gian trá nên không đuổi theo. Mọi người đều chứng kiến ông Mao đánh bại bảy hổ ly vàng hung hăng khiến chúng phải quay về hang ổ. Ai nấy đều xem ông Mao như thần nhân. Ông Mao nói với Cụ Tổ, "Lão gia Quách, yên tâm, tôi sẽ ở lại Quách phủ. Nếu ngày mai bọn chúng còn dám quay lại, tôi nhất định sẽ khiến chúng không thể rút lui."

Cụ Tổ vui mừng mời ông Mao về nhà, hết lòng tiếp đãi bằng rượu ngon, đồ ăn ngon và sự tiếp đãi chu đáo. Đêm đó, Quách phủ yên tĩnh không xảy ra chuyện gì, nhưng đến sáng sớm hôm sau, một bà lão ăn xin xuất hiện trước cổng Quách phủ.

Cụ Tổ đã dặn dò từ trước nếu gặp người ăn xin không nơi nương tựa, không được đuổi đi mà phải bố thí một ít thức ăn, coi như tích đức. Người nhà thấy bà lão đến liền vào lấy bánh bao trắng để mang ra cho bà. Nhưng bất ngờ bà lão mở chiếc bầu trên tay, hất chất lòng màu vàng vào cổng Quách phủ. Chất lòng ấy chính là hỗn hợp dơ bẩn như phân vào nước thải. Trong lúc người nhà còn chưa kịp phản ứng, bà lão lao đầu vào cổng, đập đến máu chảy đầm đỉa. Đáng sợ hơn, vị trí bà đập đầu chính là nơi đặt tượng giao đồ trấn giữ.

Người nhà Quách phủ hoảng hốt ngăn cản bà lão, nhưng bà vẫn cười lạnh nhìn Cụ Tổ. Ông Mao cũng đi ra, nhìn thấy tình trạng hỗn loạn ở cổng, thở dài và nói: "Lúc sáng sớm, thời điểm âm dương giao hỏa, bà lão này đã dùng chất thại có lẫn máu kinh nguyệt và máu người để bôi lên cổng. Điều này làm tượng giao đồ không chịu nổi ô uế mà rời đi. Đây chính là cách phá hỏng bùa trấn môn mà tôi để lại cho Quách phủ." Nghe vậy, Cụ Tổ sợ hãi quát lớn, "Ngươi đến đây xin ăn, người nhà ta tốt bụng giúp đỡ, cứ sao lại hại ta?" Bà lão khạc ra một bãi đờm, suýt nữa văng vào Cụ Tổ rồi lạnh lùng nói: "Quách lão gia, ngươi nhận ân huệ của Hổ Tiên, nhưng lại giết hại cả gia đình người ta, mạng chó của ngươi đáng lẽ phải tuyệt.

Hôm nay ta đã phá bùa chấn môn của ngươi, đêm nay để xem ông Mao kia làm cách nào bảo vệ được ngươi." Cụ Tổ cuối cùng hiểu ra vấn đề, quay sang ông Mao hỏi: "Chẳng lẽ bà lão này bị Hồ Tiên nhập thân?" Ông Mao cầm thước Lỗ Ban đi một vòng quanh bà lão rồi lắc đầu, "Không phải, nếu bị Hồ Tiên nhập, bà ta không thể vào được Quách phủ. Theo tôi, bà lão này chính là tín đồ của Hồ Tiên, được chỉ dẫn đến đây để phá bùa Trấn Môn." Bà lão lại cười lạnh nhìn ông Mao và nói: "Ông Mao, ông quả là có chút hiểu biết." Đúng vậy, ta chính là bà Trần, tín đồ của Trình Hi.

Bà lão chậm rãi kể, năm xưa ta lên núi thì mắc phải một cơn bệnh nặng, nhờ có Hồ Tiên ra tay cứu giúp ta không chỉ khỏi bệnh mà còn được mở mắt âm dương, trở thành đệ tử của Hổ Tiên.

Nhiều năm qua, ta ngày đêm cúng bái, phụng sự Hồ Tiên. Nay Hồ Tiên ra lệnh, dù có mất mạng giả này, ta cũng phải giúp Hồ Tiên đòi lại công bằng. Quách Thủ Kiệt muốn giết hay phạt ta, cứ tùy ý, ta tuyệt đối không nao núng." Bà lão vừa dứt lời, quản gia nhận ra bà ta liền nói: "Lão gia, đây quả thật là bà Trần ở thành Tây, bà ta nổi tiếng ở khu vực đó.

Khi ngài bảo tôi tìm cao nhân, tôi đã từng tìm đến nhà bà, nhưng bà từ chối lời mời, còn nói rằng lần này ngài khó tránh khỏi kiếp nạn. Giờ nghĩ lại trên bàn thờ nhà bà lúc đó chính là tượng Hồ Tam nãi nãi. Ông Mào gật đầu xác nhận không sai rồi. Nhìn thấy Hồ Tiên hung hăng như vậy, dù trong lòng sợ hãi, Cụ Tổ cũng không khỏi tức giận. Cụ Quát quản gia, "Ngươi lập tức dẫn người đến nhà bà giả điên này ở thành tây, đập nát nhà bà ta cho ta. Hồ tiên muốn mở đàn tế thu hút hương khói à? Đốt sạch bàn thở và tượng thần của nó cho ta.

Còn bà già này giải đến nha môn, nói rằng bà ta gây rối trước cửa nhà ta để quan phù xử lý bà ta. Ông mau định ngăn Cụ Tổ nhưng thấy cụ đang giận dữ, đành thở dài và không cản nữa. Người hậu lập tức chia thành hai nhóm, một nhóm đến thành Tây đập phá đàn thở của bà Trần, nhóm còn lại áp giải bà đến nha môn.

Cụ Tổ quay sang ông Mao hỏi: "Ông Mao, hành động của Hồ Tiên lần này có ý nghĩa gì?" Hồ Ly Vảng rõ ràng không đội trời chung với Quách phủ. Nay bùa chấn môn đã bị phá, đêm nay chúng chắc chắn sẽ chia làm hai nhóm. Một nhóm kéo dài thời gian để giữ chân ông, nhóm còn lại sẽ đột nhập vào Quách phủ. Đến lúc đó chúng ta không thể đối phó cả hai bên, có cách nào đối phó không? Ông Mao nhìn Cụ Tổ rồi nói: "Lão gia, có những chuyện không tiện nói ngoài này, chúng ta vào thư phòng nói chuyện." Dù không biết chữ nhiều, Cụ Tổ cũng đã xây dựng một thư phòng riêng khi xây Quách phủ.

Sau khi mời ông Mao vào thư phòng và đóng cửa, ông Mao nói: "Lão gia, tôi thấy lần này nên hóa giải ân oán thì hơn. Ông cũng thấy hồ tiên đông đảo và giai rằng rất khó đối phó. Dù tôi có ở đây cả đời hay vào núi tiêu diệt, chúng cũng không thể diệt sạch.

Sau khi tôi mất, chúng chắc chắn sẽ quay lại gây rối." Khi đó, ông có thể mời cao nhân khác đến trấn giữ, nhưng không thể luôn có người canh giữ Quách phủ mãi. Điều này sẽ ảnh hưởng đến cuộc sống thường nhật. Hơn nữa, con cháu đời sau của Quách gia cũng sẽ phải chịu sự quấy nhiễu của Hổ Tiên, cuối cùng dẫn đến cảnh gia đình saa sút. Đó chắc chắn không phải là điều ông muốn. Ông Mạo nói thêm, Thành Ngữ có câu: "Thả đắc tội quân tử, không đắc tội tiểu nhân. Hồ tiên còn chẳng phải con người, càng nguy hiểm hơn. Lời tôi nói là thật lòng, mong lão gia suy nghĩ."

Những lời của ông Mao rất thuyết phục khiến Cụ Tổ phải thừa nhận ông nói đúng. Thật lòng mà nói, tôi rất hối hận, mỗi ngày đều nghĩ việc tiêu diệt gia đình Hổ Tiên năm đó rốt cuộc là đúng hay sai, nhưng mọi chuyện đã rồi không thể thay đổi. Giờ tôi muốn hòa giải với Hồ Tiên nhưng không có cách nào. Tôi từng nghĩ đến việc nhờ bà Trần làm người hòa giải, nhưng nghĩ lại thấy không khả thi. Ông Mao, ông có cách nào không? Ông Mao gật đầu, tôi có một cách nhưng nó đi ngược lẽ thường. có thể suốt đời. Ngài Quách, ngài có biết điều mà lũ yêu tạo quỷ quái sợ hãi nhất là ai không?

Thái gia nói: "Đao của tổ tiên tất nhiên là những người như tôn tiên sinh và những cao nhân pháp vương như ngài." Mau sư phụ lắc đầu nói: "Ngài đoán lại xem." Thái gia nói: "Ta nghe nói những người vận thế cao có thần linh bảo hộ, như các sĩ tử đạt danh trên bảng vàng được Văn Khúc Tinh che chở, hay các đại quan quyền quý được thần hộ mệnh bảo vệ. Chẳng lẽ là những người đó màu sư phụ đáp: "Thứ mà quỷ thần gần gũi nhưng lại sợ hãi là kẻ ác. Có câu nói rằng thứ đáng sợ hơn cả quỷ thần chính là lòng người. Tuy nói rằng nhân chi sơ tính bản thiện, nhưng khi bản tính con người trở nên ác độc thì ngay cả quỷ thần cũng phải e rè."

"Phương pháp này của ta chính là sử dụng bản tính con người. Từ xưa trong dân gian đã có truyền thống các thương buôn thu mua ra chổn vàng để làm đổ lông, có cầu ắt có cung. Thực tế việc người dân đặt bẫy bắt chồn vàng cũng đã rất quen thuộc và có kinh nghiệm. Nếu nói thời điểm da chồn vàng có giá trị nhất chính là trước tiết xương dáng và xuân phân. Sau xương dáng, trời lạnh, chồn vàng để chuẩn bị qua đông thay lớp lông mới. Lông lúc này mềm mại, mượt mà, rất phù hợp để làm áo lông ấm áp và đẹp đẽ. Sau xuân phân, trời dần ấm lên, chồn vàng bắt đầu dụng lông để đón hè.

Da lúc này không còn giá trị và thương nhân cũng không muốn mua. Nếu nói bắt chồn vàng vào mùa hẻ rồi lột ra để đến mùa đông bán thì điều đó không thể. Những thương nhân lành nghề chỉ cần sờ vào là biết ngay chất lượng lông và màu sắc. Thời điểm Thái gia gia đang ở là vừa qua mùa hè. Da chồn vàng lúc này theo lý mà nói không ai thu mua nên cũng không ai đi bắt chồn vàng. Nhưng vì sao lại phải nhắc tới điều này? Bởi vì phương pháp của Mao sư phụ liên quan đến điều này. Trong tháng đông, da chồn vàng cao giá nhất được bán với giá 4 đồng tiền đồng.

Nhưng sau tháng đông hai tấm ra mới đổi được một đồng tiền. Mao sư phụ yêu cầu gia gia sai người đi khắp các ngõ ngách để thu mua da chồn vàng với giá 8 đồng tiền một tấm. Bất kể mùa này da không có giá trị và yêu cầu phải là da mới vừa lột ra từ chồn vàng không phải da cũ. Với sức mua lúc bấy giờ, tám đồng tiền đủ nuôi sống cả gia đình trong vài ngày. Vì vậy, khi tin tức này lan truyền, lập tức gây chấn động lớn. Chỉ trong một ngày, người từ khắp nơi trong mười dặm tám làng đổ xô vào rừng sâu để săn chồn vàng.

Có người đặt bẫy, có người dắt theo chó săn. Kết quả những con chồn vàng trốn trong rừng sâu đều bị lùa ra, hốt hoảng không biết đường chạy, cuối cùng hoặc mắc bẫy, hoặc bị chó săn cắn chết, hoặc bị người dân đập vỡ đầu bằng gậy. Mặc dù mùi hôi của chồn vàng rất khó chịu, nhưng tiền bạc luôn là thứ hấp dẫn. Người dân không ngại mùi hôi thối mà sau khi xử lý cẩn thận, thịt chồn vàng lại mềm mịn, không hề tanh, thậm chí có thể làm món ngon. Chỉ trong một ngày, cửa tiệm của Thái gia gia đã thu mua được hơn 1àn tấm da chồn vàng, tức là mạng sống của hơn 1àn con chồn vàng.

Đây chính là phương pháp Mao sư phụ bày ra. Ngươi chồn vàng muốn hại người ư? Ta bỏ tiền ra mua mạng ngươi, dù chồn vàng có hung dữ đến đâu cũng không đủ sức làm hại cả một thành phố người dân. Và với tốc độ này chỉ trong ba ngày khắp mười dặm tám làng, chồn vàng đều bị giết sạch, tuyệt diệt con cháu. Phương pháp này tuy có phần độc ác, nhưng cũng là biện pháp bất đắc dĩ, chỉ bằng cách này mới có thể buộc lũ chồn vàng tới tận cửa tìm mạng phải nhượng bộ. Quả nhiên, tối hôm đó, số chồn vàng đến trước cửa phủ họ Quách đã giảm hẳn.

Tuy nhiên, những con chồn vàng xuất hiện lần này ánh mắt trở nên dữ tợn hơn hẳn. Mao sư phụ lại cầm thước Lỗ Ban bước ra cửa. Con chồn vàng già nhìn Mao sư phụ với ánh mắt gần như muốn nhỏ máu. Nó phẫn nộ nói: "Người thật tàn nhẫn, giết hại hơn nghìn mạng con cháu ta."

Mao sư phụ đáp: "Oan gia nên dại không nên kết. Nếu ngươi định khóc suốt bảy ngày để lấy mạng ông Quách thì ông ấy cũng đã quyết tâm đối mặt với hậu quả. Ông Quách cũng đã nói, nếu các ngươi còn tiếp tục quấy rối, ngày mai giá mua da chồn vàng sẽ tăng lên mười văn tiền một tấm." Tin tức đã lan ra, người khắp nơi đang đổ về đây.

Khi đó rừng núi sẽ chật kín người chồn vàng. Ngươi và con cháu ngươi khó lòng thoát chết. Vạn vật có linh, nhưng con người là giống loài thông minh nhất, các ngươi làm sao đấu lại con người? Con chồn vàng già đầy thù hận, ước gì có thể cắn chết Mao sư phụ ngay tại chỗ. Nhưng nó cũng sợ uy lực của thước Lỗ Ban trong tay Mao. Sư phụ càng lo lắng rằng nếu ngày mai giá mua gia tăng, mạng sống của con cháu nó sẽ không giữ nổi. Quả đúng như câu nói mềm sợ cứng, cứng sợ ngang, ngang sợ kẻ không sợ chết. Phương pháp hai bên cùng tồn hại của Mao sư phụ khiến con chồn vàng đầy oán khí cũng phải nhượng bộ.

Nó nói: "Mao sư phụ, ngài nói oan gia nên giải không nên kết, vậy giải pháp của ngài là gì?" Nhận thấy chồn vàng già đã nhượng bộ, mau sư phụ cũng thở phào nhẹ nhõm. Ông đáp: "Ta đã bàn với ông Quách sẽ để ông ấy bỏ tiền xây một ngôi miếu Hoàng Tiên trên đỉnh Phong Đầu Sơn ngoài thành, mời đạo trưởng ở Thanh Phong quan làm lễ và dựng tượng Hoàng Tiên.

Sau khi miếu hoàn thành sẽ tổ chức ba ngày hát lễ, đốt nhang và bảy lễ cúng. Việc này coi như xong." Con chồn vàng già nghe vậy, mắt đảo liên tục như đang cân nhắc. Sau một hồi trầm ngâm, nói: "Nhưng còn hơn nghìn mạng con cháu của ta hôm nay. Ngươi tính sao? Chẳng lẽ muốn ta nhìn con cháu ta bị lột ra, biến thành khăn quảng cổ trên phố?" Mau sư phụ đáp: "Việc này dễ thôi. Hơn nghìn tấm da chồn vàng thu được hôm nay, ông Quách sẽ tìm một mảnh đất phong thủy tốt để chôn cất tử tế và mời đạo trưởng ở Thanh Phong quan tụng kinh siêu độ vong hồn.

Từ năm nay, ông Quách sẽ ngăn thương nhân tử nơi khác vào Lạc Dương mua da chồn vàng, để con cháu ngươi không phải chịu khổ. Sau này đôi bên không ai nợ ai, không xâm phạm lẫn nhau. Ngươi thấy thế nào? Con chồn vàng già lại đảo mắt nói: "Ta còn một điều kiện, nếu Quách Thụ Kiệt đồng ý thì việc này coi như xong. Nếu không, ta thể sẽ cùng con cháu ta khiến nhà họ Quách phải tan cửa nát nhà.

Sau khi miếu Hoàng Tiên được xây dựng, ta muốn vợ của Quách Thủ Kiệt vào ở trong miếu một tháng, thắp hương, cầu nguyện cho con cháu ta. Một tháng không được rời khỏi miếu, sau đó ân oán giữa nhà họ Quách và chúng ta coi như xóa bỏ, nước sông không phạm nước giếng. Con chồn vàng già chốt lại. Hoàng Hiền đưa ra điều kiện này, Mao sư phụ đương nhiên không dám ngay lập tức đồng ý. Ông quay về phủ bàn bạc với Thái gia.

Lúc này kết phát thê của Thái gia gia, bà Lưu thị vừa mang thai đứa con đầu lòng. Với yêu cầu của Hoàng Hiền, Thái gia vì lo sợ mưu đồ nên không dám đồng ý. Ngược lại Lưu thị lại lên tiếng: "Chỉ cần có thể bảo vệ được sự an toàn cho lão gia, đừng nói một tháng, dù ở trong miếu một năm cũng không sao. Dẫu sao nhà họ Quách đã sát hại không ít chồn vàng, thu thập nhiều da máu me như vậy, tụng kinh siêu độ cho chúng cũng là điều nên làm. Lão gia hãy yên tâm, tôi sẽ tự chăm sóc bản thân chu đáo. Tuy vậy, Thái gia gia vẫn không yên lòng nói với Mao sư phụ, tôi e rằng phu nhân sẽ gặp nguy hiểm.

Mau sư phụ đáp: "Phu nhân với tôi có ơn, tôi thà hy sinh tính mạng cũng sẽ bảo vệ phu nhân chu toàn." Chồn vàng tuy xảo quyệt và độc ác, nhưng chúng giữ lời. Hãy để tôi ra ngoài thương lượng một phen.

Mao sư phụ bước ra và nói với Hoàng Hiền, "Phu nhân đã đồng ý đến miếu Hoàng Tiên để cúng bái một tháng. Nhưng người không được làm hại tính mạng của phu nhân và đứa trẻ trong bụng. Nếu xảy ra bất trắc, dù có phải vượt qua ngàn núi vạn sông, ta cũng sẽ tìm ra xào huyệt của ngươi và lấy mạng ngươi." Hoàng Hiền đáp: "Oan có đầu, nợ có chủ, ta đã bỏ qua cho Thái gia, tự nhiên sẽ không gây khó dễ cho người phụ nữ trong gia đình. Việc này coi như đã định." Hôm sau, Thái gia ngừng thu mua da chồn vàng, khiến những người từ nơi khác đổ về săn bắt cảm thấy thất vọng.

Người dân địa phương cũng mắng nhiếc nhà họ Quách Thậm Tệ, cho rằng Thái gia gia đang đùa giỡn với họ. Tuy vậy, sau vài ngày, mọi việc trở lại bình thường. Theo thỏa thuận, Thái gia nhờ Mao sư phụ cùng thợ thuyền xây dựng miếu Hoàng Tiên trên đỉnh Phong Đầu Sơn và chôn cất số da chồn vàng thu được tại một khu đất mát lành gần đó, tạo thành một gò mộ lớn. Gò mộ nảy sau đó trở thành nơi âm khí nặng nề. Người đi qua thường gặp chuyện kỳ lạ, thậm chí bị Tà Ma quấy rối. Dân gian gọi nơi này là Mộ Chôn Vàng, một địa điểm nổi tiếng Tà Ma trong vùng.

Khi Miếu Hoàng Tiên hoàn thành, Thái gia gia mời đạo sĩ Thanh Phong quan đến điểm nhãn tượng thần. Tuy đạo sĩ không mấy hào hứng vì Thanh Phong quan thuộc chính thống đạo giáo phái Mao Sơn, không công nhận các vị thần dân gian như Hồ Hoàng Bạch Liễu là chính thống. Tuy vậy, vì mối quan hệ tốt đẹp với Thái gia, họ cũng miễn cưỡng thực hiện nghi lễ.

Sau khi miếu được khai quang và mở cửa, tổ chức ba ngày lễ hội rầm rộ, hương khói trong miếu ngập tràn, các hoạt động như hát sướng, biểu diễn, bán hàng ăn nhộn nhịp như một hội chợ. Ba ngày sau, kết phát thê Lưu thị của Thái gia gia mang theo một tỳ nữ vào ở trong miếu Hoàng Tiên để thực hiện nghi lễ.

Mao sư phụ vì lo lắng đã tạm thời giao lại thước Lỗ Ban cho bà Lưu để phòng thân. Lưu thị mang theo thước Lỗ Ban mà Mao sư phụ để lại để phòng thân khi ở trong miếu Hoàng Tiên. Bà thành tâm tụng kinh, cung kính dâng lễ, mong rằng hận thù giữa nhà họ Quách và Hoàng Hiền có thể hóa giải, biến Hoàng Hiền thành thần bảo hộ cho gia đình. Thái già gia lo lắng, ngày ngày đến miếu thăm viếng. Ban ngày ông có thể đến miếu, nhưng ban đêm trở về nhà không có Lưu thị quản lý, ba người vợ lẽ trong nhà tranh thủ tìm cách tranh sủng để có thai.

Tháng đó, trong phủ họ Quách vô cùng náo nhiệt, Thái gia cũng bị làm phiền đến kiệt sức, nhưng công sức bỏ ra không uổng phí. Khi Lưu thị ở Miếu Hoàng Tiên tròn một tháng và trở về, trong số ba người vợ lẽ, hai người đã mang thai.

Lưu thị vẫn giữ thái độ rộng lượng. Bà cho rằng con trong bụng mình là đích trường tử, việc gia đình có thêm con cháu là phúc phần. Sự bao dung của bà khiến Thái gia cảm động. Ông kính bà ba chén rượu, tỏ lòng biết ơn. Thời gian sau, mọi chuyện trong gia đình họ Quách trở nên hòa thuận.

Thái gia không chỉ thoát khỏi tai họa mà còn đàm phán được những thương vụ lớn, thu về nhiều bạc. Thời gian thấm thoát trôi qua, Lưu thị mang thai đến tháng thứ 10 thì chuẩn bị sinh nở. Ở tuổi 40, việc Thái gia gia có con đầu lòng quả thực là niềm vui lớn. Nhưng Lưu thị đã lớn tuổi, quá trình sinh nở vô cùng khó khăn. đến tối mà vẫn chưa sinh được, bà kiệt sức, bà mụ thì lo lắng toát mồ hôi.

Thái gia đang nóng ruột thì người gác cổng chạy vào báo rằng có một nhóm chồn vàng quỳ bên ngoài cổng. Thái gia vội ra ngoài kiểm tra và thấy cảnh tượng kỳ lạ, một nhóm chồn vàng quỳ gối trước cửa, giống như con người dâng hương cúng thần. Chúng lần lượt cúi đầu ba lần trước cổng, sau đó ngẩng đầu bái nguyệt ba lần lặp đi lặp lại.

Thái gia nhớ lời tiểu đạo sĩ ở Thanh Phong quan từng nói, chồn vàng bái nguyệt là đang tu luyện, nhưng việc chúng cúi đầu trước nhà họ Quách lại khiến ông nghi ngờ liệu sự khó khăn trong việc sinh nở của Lưu thị có liên quan đến chúng. Tức giận, Thái gia cầm thước Lỗ Ban mà Mao sư phụ để lại, bước ra ngoài và quát lớn, "Ân oán giữa chúng ta đã xóa bỏ từ lâu. Ta đã xây miếu Hoàng Tiên, lập bia mộ cho các ngươi, còn để vợ ta thành tâm cúng bái suốt một tháng. Này vợ ta khó sinh, các ngươi còn muốn quấy phá, nếu có chuyện bất trắc, ta sẽ dốc hết tài sản, tiếp tục thu mua da chồn vàng, khiến các ngươi tuyệt tử tuyệt tôn."

Con chồn vàng già đứng đầu nhóm nghe vậy chỉ cười nhếch mép, không nói gì mà tiếp tục dẫn đàn chồn quỳ bái, khiến cảnh tượng càng thêm kỳ quái.

Phòng chat chung
  • Xóa toàn bộ chatbox
  • Thông tin

Đang tải tin nhắn...