Thời gian được xác định qua dấu hiệu của thiết bị. Họ sẽ không hỏi gia đình người chết về thời điểm tử vong mà dựa vào chỉ tay trên thi thể để suy đoán. Đối với nam thì xem tay trái, nữ thì xem tay phải, có một câu khẩu quyết liên quan. Bạn bè giữa chưa chỉ trích nhau, ngâm mình trong lúc tự viết tay, bụi bặm nắm chặt trong tay, khi xem xét phải thật tỉ mỉ. Đây là phương pháp suy đoán thời gian từ chỉ tay trên thi thể. Nếu hỏi về trường hợp người không có tay thì đó là lý luận không cần thiết.
Lúc này chỉ cần hỏi gia đình người chết, kế đó là xác định phương vị. Và cũng có một câu khẩu quyết, phương pháp gạt hái đâu cần khó khăn, chăng sẽ thêm vào thời gian chết. Ở thời cổ đại, khi không có thầy phong thủy tính toán phương vị, quan phủ không cho phép tiến hành mai táng. Ngoài ra còn có câu chuyện về việc quay về nhà sau khi chết, tức vào ngày đầu tiên hoặc ngày thứ ba sau khi qua đời, Diêm Vương sẽ cừ tiểu quỷ dẫn hồn người chết về nhà nhìn lần cuối ăn bát cơm cuối cùng của gia đình. Đây là nguồn gốc của đêm hoàn hồn. Vào ngày này gia đình phải chuẩn bị một bát cơm trắng, không được tịnh soạn cũng không được nêm muối.
Mục đích là để người chết ăn bắt cơm cuối nhưng không được ăn quá no mà phải nhanh chóng an lòng rời xuống âm phủ báo danh. Đồng thời, thầy Phong Thủy sẽ dán bùa Vảngng Bích Trung lên cửa và cửa sổ để tránh tả. Truyền thống này là một phần trong nền văn hóa 5000 năm của Trung Hoa. Mỗi địa phương có phong tục riêng. Nếu kệ chi tiết thì mất đến ba ngày ba đêm cũng không hết. Dù bị xem là mê tín phong kiến, nhưng đôi lúc không thể không tuân thủ vì tâm lý thà tin rằng có còn hơn không. Nếu có sai sót thì sửa chữa, nếu không có cũng nên chuẩn bị.
Sau khi xác định phương vị, thầy Phong Thủy sẽ không tham gia lễ tang mà giao vai trò này cho một bậc trưởng thượng hoặc người được kính trọng trong gia tộc cầm bảng chỉ dẫn. Người này gọi là quan gia. Quan gia thường phải là người có học hoặc chính trực để ứng phó với những tình huống bất ngờ trong lễ tang. Trong một lần khi quan gia dẫn đầu đoàn tang lễ tới nghĩa trang, dây thừng khiêng quan tài bất ngờ đứt khiến quan tài rơi xuống đất, thi thể lăn ra ngoài và đối diện ngay cổng nhà Cụ Cố. Đây không chỉ là điểm xấu cho chủ nhà mà còn rất xui xẻo cho nhà họ Quách, một gia tộc quyền thế.
Quan gia sợ đến toát mồ hôi lạnh. Những người giúp việc nhà họ Quách vốn đang tò mò xem đoàn tang lễ cũng kinh hãi trước sự việc bất ngờ. Khi họ định thần lại và thấy thi thể, họ lớn tiếng trách mắng. Quan gia sợ bị trách tội, lập tức quỳ xuống xin lỗi. Người giúp việc giận dữ nói: "Hôm nay là sinh nhật cậu chủ nhỏ của chúng tôi, các người để quan tài đổ ngay cửa nhà, còn làm thi thể lăn ra ngoài. Thật là xui xẻo, phá hỏng niềm vui của cậu chủ, các người không yên đâu." Trong khi đó, Cụ Cố và thầy mao dù đang trong sân mừng sinh nhật ba tuổi của Quách Đăng Khoa cũng không khỏi căng thẳng.
Ngày này là một cột mốc quan trọng trong cuộc đời cậu bé. Nghe thấy động tĩnh ngoài cửa, Cụ Cố và thầy Mao vội vàng từ trong sân chạy ra. Khi vừa nhìn thấy thi thể ngã xuống đất, Cụ Cố lập tức cảm thấy ra đầu tê dần. Không thể trách Cụ Cố vì sao lúc này lại lo lắng đến vậy. Bởi trong những năm qua, cụ đã từng chứng kiến rất nhiều thủ đoạn hại người của giới huyền môn, đôi khi chỉ trong vô thức mà đã gây hại đến tính mạng con người.
Cụ Cố định nổi giận, nhưng nhìn thấy gia chủ quỳ xuống cầu xin tha thứ, mọi cơn giận cũng không biết chút vào đâu. Cụ khoát tay bảo, "Mau đưa tiề vào lại quan tài và mang đi ngay, đừng để lỡ giờ tốt." Gia chủ nghe vậy mừng rỡ, cúi đầu cảm tạ không ngớt. Quan gia và người thân tiến tới, đặt thi thể vào lại quan tải, đậy nắp, buộc dây và tiếp tục đoàn đưa tang. Nhưng đúng lúc này, Cụ Cố bất giác cảm thấy có người trong đám đông đang nhìn mình chằm chằm. Cụ ngước lên và thấy trong đoàn đưa tang có một người mắt toàn tròng trắng, không có tròng đen, trông giống như một người mù.
Người này mang trên mặt nụ cười lạnh lùng, đôi mắt như của người chết cứ nhìn chằm chằm vào Cụ Cố. "Đứng lại!" Cụ Cố cất giọng nghiêm nghị, gia chủ tưởng Cụ Cố tức giận đổi ý, vội vàng quỳ xuống xin lỗi lần nữa, nhưng Cụ Cố chỉ tay về phía người mù và hỏi: "Người nhà các ngươi có quen biết kẻ mù kia không?" Mọi người nhìn theo hướng tay Cụ Cố chỉ, thấy người mù kia, quan gia lên tiếng: "Ngươi là thân thích nhà ai?" gia chủ lần lượt lắc đầu, tỏ vẻ không biết người mù này là ai.
Bất ngờ, người mù mở miệng nói với Cụ Cố, "Bách Thái Lai cũng là tổ tiên của ngươi mà thôi." Nói xong, người mù quay đầu chạy trốn. Cụ Cố hiểu ra điều gì, tức giận đến nỗi toàn thân run rẩy. Cụ hét, bắt lấy hắn, đánh chết hắn. Quản gia Ngô dẫn đám người hầu đuổi theo, cả nhà họ Quách luôn căm hận những kẻ thuộc phái mù. Dù người mù chạy nhanh nhưng làm sao nhanh bằng đám người khỏe mạnh. Chẳng bao lâu họ đã bắt được hắn. Quản gia Ngô gia hiệu, đám người hầu không ngần ngại dùng gậy đánh mạnh vào người mù. Hắn vừa la hét đau đớn vừa cười lớn.
Trong tiếng cười, hắn hét lên với Cụ Cố, "Giết ta thì có ích gì? Ngươi nên về xem thử con cháu ngươi đã bị đánh chưa, tính mạng khó mà giữ nổi." Cụ Cố nghe vậy mà hoảng sợ đến rụng rời. Cụ quay sang hỏi Thầy Mao, "Ông ấy nói vậy là sao? Bị cái gì đánh?" Thầy Mao nhíu mày, nhìn quan tài mới được đặt lại rồi thở dài, "Hỏng rồi, người của phái mù đã phá rối bản chấm phương vị. Họ không chỉ chọn giờ xấu mà còn cố ý làm sai lệch, khiến Quang Tài rơi ngay trước cửa nhà, sát khí từ giữa xộc thẳng vào nhà họ Quách." Người mù nghe thấy lời thầy Mao Tỳ phá lên cười lớn.
Hết rồi, nhả người có một đứa nhỏ sẽ mất mạng trong hôm nay. Về mà nhìn mặt nó lần cuối đi, sống không qua nổi đêm nay đâu. Đánh chết, đánh chết ngay. Quản gia Ngô giận dữ quát, gậy gộc liên tục đập lên đầu người mù, chỉ vả nhát đã khiến đầu hắn vỡ nát. Nhưng Cụ Cố và thầy mao không mảng đến việc người mù đã chết, họ lập tức chạy về nhà. Thầy Mao vừa chạy vừa tức giận nói: "Tôi đã bảo phải thay cửa chính tử lâu, nhưng cứ bị chỉ hoãn. Nếu bùa hộ môn vẫn còn, nó sẽ không vào được nhà họ Quách. Nếu Quách Đăng Khoa có mệnh hệ gì, lỗi hoàn toàn ở tôi."
Cụ Cố lo lắng đến nỗi sắp khóc, vội vã chạy vào nhà. Khi chưa kịp đến nơi, họ đã nghe tiếng Quách Đăng Khoa vọng ra từ trong nhà, kèm theo đó là tiếng khóc đau đớn của Mao Tường Vân vang lên.
"Ông cố của tôi không khỏi cảm thấy đôi chân mình có chút mềm nhũng. Nếu thực sự nhìn thấy Quách Đăng Khoa bị Dương Tỏa đánh đập trong gian phòng, ông e rằng bản thân sẽ không thể vượt qua tình cảnh này. Nhưng với vai trò là gia chủ, liệu lúc này có thể né tránh được không? Dù có trốn đi, ông cũng không biết trốn được đến đâu. Ông Cố và Mao sư phụ lao vào trong phòng, chỉ thấy Mao Tường Vân đang ôm Quách Đăng Khoa khóc, chưởng môn Thanh Trần thì đứng chán trước hai người với vẻ mặt đầy cảnh giác.
Mao sư phụ lao đến hỏi: "Không sao chứ?" Khi thấy hai người trở lại, chưởng môn Thanh Trần mới thở phào nhẹ nhõm ôm quyền nói: "Vừa rồi có một luồng tà khí trực tiếp lao về phía tiểu công tử, bần đạo muốn cản lại nhưng không thể. Mày thay, trên người tiểu công tử có bảo vật hộ thân, đã giúp chặn tà khí và hóa giải sát khí, nếu không lần này e rằng khó tránh khỏi tai họa." Ông Cố tiến lên hỏi đứa trẻ vì sao khóc mãi không ngừng? Chưởng môn Thanh Trần đáp: "Tiểu công tử chỉ bị hoảng sợ, không bị thương." Ông cố nhận lấy đứa trẻ từ tay Mau Tường Vân ôm chặt vợ con vào lòng, khẽ dỗ, "Không sao rồi, không sao rồi, chỉ cần mọi người an toàn là tốt."
Ông nói tiếp, "Tên mù kia đã bị quản gia Ngô đánh chết, các người không bị liên lụy đã là may mắn trong cái rủi." Mao Tưởng Vân dần trấn tĩnh lại, lau nước mắt trên mặt rồi mở áo trước ngực Quách Đang Khoa, chỉ thấy chiếc khóa trường mệnh treo trước ngực cậu bé đã đầy vết nứt.
"Nếu dùng lực một chút, e rằng nó sẽ vỡ vụn." Chưởng môn Thanh Trần ngạc nhiên nói: "Ta cứ ngỡ trên người tiểu công tử có pháp khí do Mao sư phụ bố trí, không ngờ lại là một miếng ngọc quý như vậy. Ngọc dưỡng người, người dưỡng ngọc, ngọc tốt có thể bảo vệ chủ nhân vào lúc nguy nan giúp tránh tai họa và hóa giải sát khí. Quả nhiên là như vậy, Bách lão gia và tiểu công tử đúng là người có phúc lớn mạng lớn, sau này nhất định sẽ hưởng đại phúc." Ông Cố cũng chỉ đến khi nhìn thấy miếng ngọc vỡ này mới hiểu ra rằng chính chiếc khóa trường mệnh do Kim Cương tặng đã cứu tiểu công tử khỏi hiểm họa.
Khi hỏi Mao Tưởng Vân về chuyện xảy ra mới biết mẹ con họ đã khóc vì Quách Đăng Khoa là người đầu tiên nhìn thấy tà khí. Sau đó chiếc ngọc trước ngực bất ngờ vỡ khiến cậu sợ hãi bật khóc. Cậu bé khóc Mao Tưởng Vân cũng hoảng loạn mà khóc theo. Sau đó chưởng môn Thanh Trần hỏi về những gì xảy ra bên ngoài. Ông cố kể lại chuyện tên mù thuộc phái mù cố tình đặt quan tài trước cửa nhà Quách tính toán thời điểm để tà khí lao thẳng về phía đứa trẻ. Nghe xong, chưởng môn Thanh Trần nghiêm nghị nói: "Chuyện đã qua nhiều năm, nhưng người của phái mù vẫn chưa từ bỏ ý định trả thù.
Tên mù đó đáng chết, nhưng phái mù đã mất ba mạng người, mối thù càng ngày càng sâu. Nếu hai phái thực sự đối đầu, sớm muộn cũng phải phân thắng bại để kết thúc mối ân oán này. Phái mù không phải môn phái danh tiếng, hành sự không theo quy tắc, đây mới là điều đáng sợ nhất. Theo ta thấy, oán thù nên hóa giải chứ không nên kết lại. Chuyện này nên sớm có lời giải quyết."
Mao sư phụ tức giận nói: "Kẻ nào đến thì ta giết kẻ đó, phái Phong Thủy Tam Tuyệt chết trong tay ta. Ta nào sợ gì đám tép diu còn lại. Chưởng môn Thanh Thần nhắc nhở. Phái mù tuy không lớn nhưng cũng không ít người, chỉ dựa vào giết chóc sao có thể giải quyết triệt để. Phong cách hành sự của họ quỷ dị, không thể lúc nào cũng đề phòng được.
Mao sư phụ đáp lại đẩy quyết liệt. Vậy là giết chưa đủ nhiều, ra tay chưa đủ ác. Đạo lý chỉ dành cho người quân tử, còn thể diện chỉ dành cho kẻ biết xấu hổ.
Mao sư phụ nói, đám cặn bã giang hồ này đã nhiều lần ra tay với vợ con tôi, chỉ có cách ra tay mạnh mẽ, giết đến khi chúng sợ hãi thì mới dẹp yên được. Đây chính là sự thay đổi của Mao sư phụ trong những năm qua mà mọi người thường nhắc đến. Trước đây Mao sư phụ luôn sống hỏa nhã, không tranh cãi với ai, chỉ đến khi bị ép buộc mới ra tay. Nhưng kể từ khi trở về từ thiên tân, ông dần trở nên bạo lực khiến hàng xóm và người thân cho rằng tuổi giả đã làm ông thay đổi tính tình. Chỉ có ông cố của tôi hiểu rằng Mao sư phụ đã nhìn thấu thế sự và cảm thấy bế tắc trước tình cảnh của giáo phái Lố Ban dẫn đến sự thay đổi trong tâm lý và hành vi.
Ông dùng cách này để chứng minh sự lợi hại của giáo phái, không muốn giáo phái Lỗ Ban bị coi thường. Thế gian này vốn dĩ là như vậy, những kẻ không có thể diện lại thường hay chấp nhặt những thứ liên quan đến thể diện. Người không có gì thì càng tranh chấp nhiều. Nhưng cũng có câu nói hay rằng người giàu tường quý mạng sống như vàng.
Lúc này ông Cố đã đạt được danh vọng gia đình hòa thuận không đáng để lao vào cuộc chiến sống chết với đám mù đi hành nghề bói toán. Hơn nữa, sau khi xây dựng được những phương pháp hại người trong âm thầm của giáo phái, ông đã chán ghét và e sợ chúng. Bản thân có chuyện gì cũng không sao, nhưng ông không thể chịu nổi cảnh sinh ly tự biệt. Vì vậy ông nói với chưởng môn Thanh Trần, "Thanh Trần đạo trưởng nói đúng, oán tù nên hóa giải chứ không nên kết, nhưng làm thế nào để hóa giải mối hận thù này thì tôi chưa rõ." Nghe vậy, mau sư phụ nổi giận nhưng ông cố ngăn lại, "Cha à, ta không sợ phái mù, nhưng không thể ngày ở bên bảo vệ Tường Vân và đứa nhỏ.
Nếu họ gặp chuyện, chúng ta e rằng sẽ hối hận không kịp." Mao sư phụ nhìn ông Cố đầy tức giận nhưng cũng im lặng. Chưởng môn Thanh Trèn nói: "Dù Trần Tịch Sơn đã bị tiêu diệt nhưng người phái mù vẫn tiếp tục nhằm vào gia đình quắch. Đây không phải chỉ là mâu Tuấn cá nhân mà là một phần của cuộc tranh chấp với giáo phái Lỗ Ban. Hai bên đều đang căng thẳng, không ai chịu nhường nhịn, tất cả chỉ vì một chút thể diện và tự tôn. Nếu Mao sư phụ có thể hạ mình đến phái mù để câu nói chưa dứt, Mao sư phụ đã bật dậy, giận dữ nói: "Muốn tôi đến xin lỗi đám cạn bá đó, họ không xứng."
Ông Cố hiểu rằng với tính cách của Mao sư phụ, việc này là không thể. Hơn nữa, việc vợ con ông bị tổn thương là mối thù sâu sắc. Dù không muốn dây dưa thêm với phái mù nhưng việc cúi đầu cầu hỏa cũng không thể chấp nhận được. Ông nói bên nào cũng là người của mình, thể diện và lợi ích đều không thể bỏ qua, liệu có cách nào rung hòa không? Chưởng môn Thanh Trần mỉm cười, Quách lão gia vẫn không hề thay đổi sau bao năm, thật ra có một cách, hãy tìm một vị tiền bối có danh vọng lớn trong giang hồ. Người này cần phải có tiếng tăm lẫy lưng, nhờ họ đứng ra hỏa giải.
Lúc đó cả hai phái đều xem như nể mặt vị cao nhân này. Khi đó tại một buổi tiệc, hai bên cùng hỏa giải ân oán, mọi chuyện sẽ được giải quyết. Ông Cố gật đầu đồng ý và hỏi: "Vậy vị tiền bối nào là người phù hợp?" Chưởng môn Thanh Trần thở dài. Trong thiên hạ hiện nay, người có thể diện lớn nhất trong giới huyền môn là Bạch Vân Thiền Sư, nhưng chuyện nhỏ nhặt thế này mà nhờ đến Thiền sư thì lại làm mất mặt ngài.
Tuy nhiên, tôi có thể mở trưởng lão trong sư môn của mình. Ôi, chưởng môn Thanh Trần thở dài, đáng tiếc là sư môn ta cũng có chút dây mơ dễ má với giáo phái Lỗ Ban. Mau sư phụ, ngài đã lang bạt giang hồ nhiều năm, liệu có quen biết vị tiền bối nào trong lĩnh vực này không?
Mao sư phụ cười lạnh, "Ta chỉ là một kẻ quê mùa, làm sao quen được tiền bối cao nhân gì chứ? Dù có quen cũng không đủ tư cách để mời họ. Chuyện này không cần tìm ai cả. Theo ta, chưởng môn Thanh Trần chính là người phù hợp. Ngài tuy ở tại Thanh Phong quan, nhưng là đệ tử phái Mao Sơn chính thống, người của phái mù chắc chắn không dám không nể mặt Mao Sơn. Không được, không được. Chưởng môn Thanh Trần lắc đầu khổ sở. Tạ tư cách nông cạn, pháp lực thấp kém, nếu ta đứng ra, e rằng sẽ hỏng chuyện.
Mao sư phụ ngắt lời, cứ quyết định vậy đi. Người viết một bức thư cho thủ lĩnh phái mù, bảo họ đến Quách phủ ở Lạc Dương. Ta Mao Thiên Hồng sẽ bày tiệc qua cầu, giết người phóng hỏa qua cầu sửa đường người của phái mù muốn đến thì cứ đến, nếu không đến ta sẽ không nhắc đến chuyện này nữa.
Khi đó nếu có chết chóc thì cứ để nó diễn ra. Ông nói thêm, ngươi cũng nói rõ trong thư rằng nếu họ còn động đến bất kỳ ai trong Quách phủ, ta sẽ khiến phái mù bị xóa tên khỏi giang hồ. Chưởng môn Thanh Trần nghe xong không khỏi bối rối, còn ông Cố thì trầm ngâm. Dù ông không hiểu nhiều về giang hồ huyền môn, nhưng lại tinh tường về nhân tình thế thái. Ông biết rằng vị trí của chưởng môn Thanh Trần tại Mao Sơn chỉ là ngoại môn, chưa đủ sức tuyết phục. Một người trung gian cần phải có đủ danh tiếng, nếu không sẽ gây hậu quả ngược.
Tuy nhiên, Mao sư phụ như nhìn thấu suy nghĩ của ông Cố, ông nói: "Thái Lai, chẳng lẽ ngươi còn chưa hiểu, người của phái mù mà biết nghĩ đến thể diện thì đã không nhằm vào vợ con ta? Với loại người như vậy, ngươi cho họ thể diện, họ sẽ nghĩ ngươi sợ họ. Trên đời này đầy kẻ không biết điều. Tin ta đi, làm theo cách của ta không sai đâu. Mau sư phụ nói tiếp. Chưởng môn Thanh Trần, bức thư này giao cho ngươi viết.
Lúc này quản gia Ngô vừa rửa sạch máu trên người và bước vào trong. Mao sư phụ gọi ông lại hỏi đã đánh chết hắn chưa? Quản gia Ngô gật đầu xác nhận. Xử lý thế nào? Mau sư phụ hỏi tiếp. Quản gia Ngô hạ giọng, "Mao sư phụ yên tâm, ta đã xử lý thỏa đáng."
"Xử lý cái gì? Hãy chặt xác tên mù đó thành tám mảnh, treo đầu hắn lên cổng thành Lạc Dương, phần cò lại đặt trước Quách phủ, nấu một nổi với hành, gừng và gia vị. Đám mèo hoang chó hoang sẽ kéo đến ngửi thấy mùi thơm. Ngươi chia phần cho chúng ăn coi như tạo phúc.
Mao sư phụ lạnh lùng ra lệnh. Ông còn nói thêm, "Thái lai, ngươi chặt một cây đảo, ta sẽ dùng bảy cây đinh đoàn hồn đóng xuống nơi tên mù đó chết. Đinh này đóng trên mặt đất để phái mù nhìn thấy mà run sợ. Ta sẽ dùng những chiếc đinh này khiến môn đồ của hắn hồn bay phách tán, không thể siêu sinh." Chưởng môn Thanh Trần nghe vậy, kinh hãi đến mức run rẩy. Ông trẻ tuổi chưa hiểu hết sự hiểm ác của giang hồ. Ông nói giọng lạc đi, mau sư phụ, chẳng lẽ ngài không thấy cách này quá tàn nhẫn? Mau sư phụ đáp lại. Chưởng môn Thanh Trần, ở Thanh Phong quan, ngươi đã thấy mọi người kính sợ thần linh, nhưng ta hỏi ngươi, người đời sợ quỷ thần hay sợ kẻ ác hơn?
Dù có câu ba thước trên đầu có thần minh, nhưng không bằng một lưỡi dao sát nhân đến thẳng vấn đề. Quản gia Ngô cúi đầu nhận lệnh và nhanh chóng làm theo chỉ dẫn. Ông cố chấp nhận kế hoạch của Mao sư phụ, không phải vì quan hệ gia đình mà vì ông biết rằng cách này có thể giải quyết triệt để. Chưởng môn Thanh Trần khi ấy cũng giống như ông cố của tôi thuở ban đầu, tuy có chút hiểu biết về nhân tình thế thái giang hồ, nhưng cuối cùng vẫn giữ được trái tim trong sáng.
Tuy nhiên, việc dùng tiện ý để đoán ý đồ của kẻ ác có lẽ là sai lầm lớn nhất trong đời người. Phương pháp mà Mao sư phụ đưa ra tuy có phần đẫm máu nhưng trong một thời đại đầy biến động và mạng người rẻ như cỏ giác thì việc thực hiện không phải là điều khó khăn. Với danh tiếng và địa vị của Quách phủ ở Lạc Dương khi ấy, những hành động như vậy cũng không gây nhiều rắc rối. Ngay trong ngày hôm đó, trước cửa Quách phủ, một chiếc nổi lớn được đặt lên. Thi thể của tên mù phái mù bị chặt thành tám mảnh, đưa vào nồi nấu chín để cho chó ăn.
Trong ghi chép của ông cố, quá trình này không được miêu tả chi tiết, chỉ dùng một cụm tử hương thơm kỳ lạ để nói về mùi vị của thịt người. Đầu của tên mù được treo lên cổng thành Lạc Dương. Sự kiện này lan chuyển khắp thành phố cũ trước thời kỳ giải phóng với nhiều phiên bản khác nhau. Có người nói là Quách lão gia, có người lại bảo là Lý lão gia hay Trần lão gia đều là các gia tộc lớn trả thủ kẻ thủ bằng cách treo đầu lên cộng thành để thị uy. Câu nói đùa cẩn thận không thì đầu của ngươi bị treo lên cộng thành cung tử đó mà ra, thể hiện sức ảnh hưởng lớn của sự việc.
Kế hoạch của Mao sư phụ là tung ra một cú đánh mạnh mẽ khiến phái mù phải kinh sợ trước sự máu lạnh của Quách phủ và giáo phái Lỗ Ban. Như ông nói, kẻ mềm yếu sợ kẻ cứng rắn, kẻ cứng rắn sợ kẻ liều mạng. Sau đó, chưởng môn Thanh Trần, một nhân vật vô danh trong giang hổ được chỉ định viết thư cho phái mù. Điều này làm giảm đi cảm giác Quách phủ chủ động cầu hỏa mà biến thành một hành động quan tâm từ phía Mao Sơn, đồng thời triệt hạ khí thế ngông cuồng của phái mù. Bức thư này cần được viết một cách khéo léo. Quản Giang Ngô mời vài luật sư nổi tiếng của Lạc Dương, những người giỏi sử dụng từ ngữ để chỉnh sửa nội dung.
Cuối cùng, một bức thư được hoàn thành, khiến người đọc vừa cảm kích vừa sợ hãi. Trong thư, chưởng môn Thanh Trần không nhắc trực tiếp đến Quách Phù hay Thanh Phong quan mà chỉ nói rằng mình là đạo sĩ thuộc Mao Sơn. Nghe về vụ án treo đầu ở Lạc Dương nên đến điều tra.
Sau khi biết về mối thù giữa Quách phủ và phái mù, ông cảm thấy cần nhắc nhở phái mù cảnh giác, tránh để xảy ra hậu quả thảm khốc hơn. Bức thư nhấn mạnh rằng Mao Sơn và đệ tử của mình không muốn thấy những cuộc tranh chấp lớn trong giang hồ, nhưng nếu phái mù không chấp nhận hỏa giải thì Quách phủ và giáo phái Lỗ Ban sẽ liên minh để truy sát. Lá thư nhanh chóng được gửi đến gia tộc Trần ở Hà Bắc. Và lúc này ông Cố và Mao sư phụ tiếp tục chuẩn bị thêm những bước tiếp theo cùng cố cánh cửa chính của Quách phủ. Sau sự kiện khủng khiếp, Quách phủ tiến hành thay mấy cánh cửa chính như một cách để thể hiện việc bắt đầu lại từ đầu.
Đồng thời, nơi ở của Mao Tường Vân cũng được tu sửa và sắp xếp lại. Ông Cố còn mời Lưu Bát ra tìm vài vị anh hùng từ cấp môn phái ngoài giang hồ đến để trông coi Quách phủ. Điều này không chỉ nhằm đề phòng sự trả thù từ phái mù mà còn bởi tình hình bên ngoài ngày càng rối ren. Với nhiều vụ cướp bóc và bạo động xảy ra trong thành Lạc Dương. Việc chuẩn bị trước là điều cần thiết. Khoảng một tháng sau, vào một đêm mưa, người của nhà họ Trần và vài trưởng lão của phái mù đến Thanh Phong quan. Chưởng môn Thanh Trần đón tiếp họ và mời vào trong.
Ông pha trà, lắng nghe từng bên trình bày chi tiết về mối thủ oán. Mối thù giữa ông Cố, Mao sư phụ và Trần H Sơn vốn rất phức tạp. Ai cũng có lý lẽ riêng dẫn đến tình trạng ông nói gà, bà nói vịt. Phía phái mù khẳng định rằng việc Trần H Sơn đến Hà Bắc để phá Mao sư phụ chẳng khác nào việc tây thuốc chữa bệnh cần tù lao là điều hiển nhiên. Trong khi đó, Mao Thiên Hồng và Quách Thái Lai lại cho rằng điều kiện của Trần H Sơn quá đáng, không đáng phải dùng đến bạo lực. Dù vậy, sự xuất hiện của phái mù tại Thanh Phong quan cũng chứng tỏ họ không muốn tiếp tục đối đầu.
Điều này cho thấy vấn đề chủ yếu nằm ở việc giữ thể diện. Chưởng môn Thanh Trần dù trẻ tuổi nhưng là đệ tử Mao Sơn phải thể hiện uy nghiêm của mình. Sau khi nghe lời trình bày, ông lạnh lùng nói: "Việc mời Trần H Sơn không chỉ đơn giản là vì tài nghệ của ông ta. Hắn nắm giữ tuyệt kỹ, là người đứng đầu trong giới phong thủy, nhưng thay vì tu tâm dưỡng tính, giúp đời, hắn lại lợi dụng tài nghệ để làm điều xấu xa như cưỡng ép phụ nữ. Đó là tội đầu tiên, các người thừa nhận không? Người nhà họ Trần không thể chối cãi, phải cúi đầu nhận lỗi.
Thứ hai, chưởng môn tiếp tục. Dù Mao Tiên Hồng và Quách Thái Lai có sai, Trần H Sơn cũng nên đối mặt trực tiếp với họ. Nhưng hắn lại không tuân theo quy tắc giang hồ, hại đến vợ của Quách Thái Lai, khiến bà ấy phải chịu cái chết thê thảm. Hành vi này dù trong Huyền Môn hay giang hồ đều đáng bị khinh bì. Người của phái mù định lên tiếng biện minh, nhưng chưởng môn không để họ có cơ hội. Ông nói tiếp, "Trần H Sơn đã chết, nếu các người muốn đòi nợ máu cũng không phải là sai, nhưng thay vì nhắm vào Mao Tiên Hồng hay Quách Thái Lai, các người lại lợi dụng lễ đầy tháng của con trai Quách để nguyền rủa.
Hành động này có phải là của anh hùng không?" Sau một tràng chất vấn, chưởng môn Thanh Trần kết luận phái mù không dám đối đầu với Mao Thiên Hồng vì ông ấy là trưởng lão Lỗ Ban Giáo. Còn Quách Thái Lai chỉ vì ông ấy không có gốc dễ huyền môn, các người liền xem thường. Nhưng các người có biết không? Quách Thái Lai không chỉ có mối quan hệ thân thiết với nhiều cao thủ giang hồ mà còn có con trai là Quách Bình An, người có liên hệ mật thiết với tiên gia Đông Bắc. Lời của chưởng môn khiến người của phái mù lặng đi, không thể phản bác. Cuộc đảm phán bắt đầu chuyển biến.
Chưởng môn Thanh Trần tiếp tục trình bày đưa ra những lý do vững chắc để bảo vệ Quách gia. Ông nhấn mạnh rằng con trai cả của Quách Thái Lai, Quách Bình An không chỉ kết giao với nhiều cao thủ giang hồ mà còn là đệ tử cuối cùng của Bạch Vân Thiền Sư, một bậc thầy trong phái Thiền tông được tôn kính trong giang hồ. Thậm chí Hoàng Thái Hậu còn ban cho ông họ Nạp Lan, một đặc ân mà rất ít người được nhận. Những nhân vật quan trọng như bảy trưởng lão Mao Sơn khi xuống núi cũng phải nể mặt Quách ra vài phần. Vì thế phái mù nhỏ bé dám nguyền rủa Quách ra đoạn tử tuyệt tôn, quả thật là tự tìm rắc rối.
Bài phát biểu của chưởng môn Thanh Trần không chỉ logic, đầy sức thuyết phục mà còn dùng chính danh tiếng và các mối quan hệ của Quách gia làm vũ khí. Điều này còn uy hiếp phái mù mạnh mẽ hơn cả việc treo đầu tên mù trước đó. Người của phái mù không thể không cúi đầu thừa nhận sai lầm, thậm chí còn cầu xin chưởng môn Thanh Trần đứng ra hỏa giải với Quách gia. Chưởng môn Thanh Trần sau đó trở lại Quách phủ, thuật lại toàn bộ câu chuyện. Ông Cố vốn mong muốn dừng lại mọi ân oán nên đã vui vẻ chấp nhận.
Mao sư phụ tuy vậy cười lạnh và nói: "Nếu họ tiếp tục cứng đầu đấu pháp, ta còn xem trọng họ một chút, nhưng hóa ra cũng chỉ là đám hèn nhát." Ông Cố khuyên giải.
"Ông nói đúng, nhưng dễ thỏa hiệp với ma quỷ còn hơn với tiểu quỷ. Chuyện đã giải quyết, không cần dây dưa thêm nữa. Mao sư phụ cũng không muốn kéo dài chuyện, chỉ yêu cầu chưởng môn Thanh Trần quay lại thông báo cho phái mù rằng ngày mai Quách phủ sẽ bày tiệc qua cẩu và bất kỳ ai muốn nói gì hãy đến đó mà trình bày. Tiệc qua cẩu là một nghi lễ truyền thống của giang hồ được dùng để xin lỗi. Chủ nhân không xuất hiện trong buổi tiệc, trong khi người đến nhận lỗi phải uống rượu từ đầu bàn tiệc đến cuối bàn. Nếu người nhận lỗi uống hết rượu mà chủ nhân vẫn không xuất hiện, điều đó đồng nghĩa rằng ân oán được xóa bỏ.
Hành động này vừa mang tính tượng trưng, vừa giúp các bên giữ thể diện, tránh những mối thù không hồi kết. Ngày hôm sau, phái mù đến Quách phủ tham dự tiệc. Mao sư phụ và ông Cố đứng từ xa, chứng kiến từng người của phái mù uống hết rượu trên bàn tiệc giải. Đến khi những người này say đến mức không còn đứng nổi, phải được khiêng ra ngoài, Mao sư phụ và ông cố vẫn không xuất hiện. Điều này khiến phái mù hoàn toàn mất mặt, khí thế của họ bị đánh gục hoàn toàn. Trong khi danh tiếng của giáo phái Lỗ Ban càng được nâng cao. Sau sự kiện này, Quách phủ trải qua một giai đoạn yên bình tương đối dài.
Nhưng sự yên bình này không giống như truyền thống mà chỉ là không còn các cuộc đối đầu với Huyền Môn hay yêu quái. Ông Cố tập trung ghi chép các sự kiện liên quan đến Lỗ Ban giáo và Huyền Môn, ít nhắc đến những khó khăn trong kinh doanh và đời sống cá nhân. Thực tế, thời kỳ sau này không hề dễ dàng với Quách phủ. Tình hình đất nước ngày càng bất ổn với nội chiến và ngoại sâm khiến triều đình nhà Thanh suy yếu, quyền lực ở các địa phương trồng chéo và đầy mâu thuẫn.
Quách gia phải đối mặt với nhiều thách thức mới trong thời kỳ đầy biến động này. Theo lời của người già, hoàng đế là chân long. Chân long sắp chết, yêu ma hiện thế, các loại yêu quái quỷ mịn nổi lên khắp nơi, thế giới trở nên hỗn loạn. Đó là một thời kỳ động loạn chưa từng có trong lịch sử Hoa Hạ. Bất kỳ ai muốn giữ mình trong thời đại ấy đều phải đối mặt với những khó khăn vô cùng lớn. Từ những điều đã được kể trước đó, chúng ta có thể cảm nhận rõ rằng ông Cố vì hạn chế cá nhân mà thiếu đi học tức và tầm nhìn xa rộng.
Trong cơn sóng gió của lịch sử, tầng lớp địa chủ cũ có tầm nhìn sâu rộng đã thay đổi tư duy, chấp nhận sự va chạm của các ngành nghề mới, dần chuyển từ tầng lớp địa chủ và Quan Liêu sang trở thành những nhà tư bản lớn, đồng thời vươn lên mạnh mẽ trong thời đại đó. Ngược lại, những người như ông Cố thuộc phái bảo thủ đã bị làn sóng lịch sử đào thải. Điều quan trọng nhất là những giá trị nhân nghĩa và quy tắc mà ông Cố luôn giữ vững, có thể là nguyên tắc kinh doanh trong thời Tịnh Trị, nhưng lại trở thành điểm yếu chí mạng trong giai đoạn lịch sử đầy sóng gió ấy.
Nếu không nhờ phúc khí và may mắn, có lẽ ông Cố đã bị nhấn chìm trong cơn bão lịch sử từ lâu. Các văn nhân thường thêm vào những lời cảm thán riêng trong tác phẩm để bày tỏ cảm xúc chân thật. Trong khi ghi lại cuộc đấu tranh với phái mù, Hồng Cố luôn nhấn mạnh rằng lòng tốt không có tác dụng và người không độc ác thì không phải nam nhi. Những cảm xúc tiêu cực này có thể xuất phát từ những trải nghiệm sau này của ông.
Khi ghi chép dần đi đến hồi kết, ông Cố đã gần 70 tuổi. Lúc ấy việc viết tay không nhanh như đánh máy bây giờ. Câu chuyện tuy có vẻ ngắn gọn nhưng đã tiêu tốn của ông gần 8 năm. Ở tuổi 78, sức khỏe ông đã suy giảm nghiêm trọng do viết lách liên tục và tuổi tác. Ông mắc bệnh về mắt, sau đó phải nhờ một bác sĩ người Đức mộ mắt nhưng không may bị nhiễm trùng dẫn đến mù một bên mắt. Điều này làm ông càng không tin tưởng y học phương Tây dẫn đến ảnh hưởng nặng nề đến mắt bên kia. Ông còn bị đau lưng kéo dài, đặc biệt khi trời âm u khiến cơn đau lan khắp cơ thể.
Ông dùng trà pha thuốc viện để giảm đau nhưng chỉ là giải pháp tạm thời. Đến gần tuổi 80, ông nghiện nặng thuốc viện. Tuy nhiên, những lúc chưa lên cơn nghiện, tinh thần ông lại sáng suốt. Nhờ đó mà ông hoàn thành đoạn cuối cùng của câu chuyện, khép lại cuộc đời đầy biến cố của mình. Câu chuyện tưởng đã kết thúc với việc Mao sư phụ.
Sau khi giao dịch với vật bị nguyền rủa sống thêm được 10 năm. Nhưng 10 năm sau, khi trở về từ Thiên Tân, câu chuyện lại rẽ sang hướng khác. Sau khi giải quyết xong tranh chấp với phái mù, ông cố hy vọng sư phụ Mao, người giả và cô đơn sẽ chuyển đến sống cùng gia đình ông. Thứ nhất, để Mao sư phụ không phải sống một mình tại Thiên Tân mà có thể tận hưởng niềm vui gia đình tại phủ Quách. Thứ hai, sự hiện diện của Mao sư phụ cũng giúp phòng ngừa những tình huống bất ngờ, nhất là từ phía những người phái mù vốn không phải là những anh hùng chính trực có thể trở mặt bất kỳ lúc nào.
Tuy nhiên, Mao sư phụ không đồng ý và quyết định quay về khai phòng. Ông nói rằng mình đã quen sống trong con ngõ đạo hoa ở Thiên Tân, không muốn rời xa những người hàng xóm cũ Tân Quen. Hơn nữa, một việc quan trọng mà ông cần làm là chọn người kế thừa cho Đức Tín Đường, không để truyền thống bị gián đoạn dưới tay mình.
Khi trở về Khai Phong, Mao sư phụ sống cuộc đời đơn độc, ông cố, bận rộn với công việc, không thể thường xuyên thăm nom, chỉ có thể nhờ quản gia Ngô gửi tiền giúp đỡ. Những ngày tháng trôi qua, sức khỏe của Mao sư phụ suy giảm do lao động quá độ thời trẻ. Ông Cố muốn tìm người giúp việc chăm sóc, nhưng mau sư phụ từ chối, nói rằng mình đã quen với cuộc sống khổ cực, không thích ai phục vụ.
Mao sư phụ tính tình bướng bỉnh khiến ông Cố không thể thuyết phục. Đến năm thứ 10, ông Cố biết ngày cuối cùng của Mao sư phụ sắp đến nên lại đề nghị đón ông về phủ Quách nhưng ông vẫn từ chối. Trong năm cuối cùng này, Mao sư phụ thậm chí không muốn gặp ai, kể cả ông Cố.
Khi ông Cố cùng Mao Tường Vân và Quách Đăng Khoa đến thăm, họ cũng bị từ chối ngoài cửa. Mau sư phụ, một người thờ thủ công cẩn thận đã ra cố sân nhà bằng hàng giảo sắt, chỉ để lại một cổng nhỏ để nhận đồ ăn và nhu yếu phẩm từ người duy nhất ông cho phép tiếp cận Hắc Ngưu, đệ tử trung thành nhất của ông. Ông cố đau lòng khi thấy Mao sư phụ từ chối gặp mặt và chỉ có thể biết tin tức qua Hắc Ngưu. Ông tin rằng Hắc Ngưu là người được Mao sư phụ chọn làm truyền nhân của Đức Tín Đường. Nhưng qua trò chuyện, ông ngạc nhiên khi biết rằng Mao sư phụ chưa từng dạy Hắc Ngưu bí pháp kKhuyết Nhất Môn của Lỗ Bàn.
Điều này làm ông cố thêm băn khoăn. Bởi tính cách của Mao sư phụ sẽ không để truyền thống Đức Tín Đường bị đứt đoạn. Có thể Mao sư phụ dự định truyền thụ vào phút cuối cùng hoặc cho rằng bí pháp ấy quá nguy hiểm thuộc dạng cướp lấy thiên mệnh. Bí pháp này chỉ cần học trong 49 ngày là thành và Mao sư phụ có lẽ đã có kế hoạch riêng của mình. Dù Hắc Ngưu không phải người được chỉ định rõ ràng, sự việc để lại nhiều nuối tiếc và cảm xúc cho ông Cố khi ông hiểu rằng nếu không từ chối lúc trước, người kế thừa đức tín đường chắc chắn sẽ là ông.
Nhưng đời người là vậy, vận mệnh đã sớm an bài. Ông Cố vẫn đối xử rất tốt với Hắc Ngưu, người luôn là cầu nối đưa tin tức từ Mao sư phụ đến ông và Mao Tường Vân. Hai tháng sau cuộc trò chuyện, Hắc Ngưu bất ngờ đến gặp ông Cố. Báo tin kỳ lạ rằng trong một lần vô tình nhìn thấy, tay của Mao sư phụ đã trở nên khác thường, chỉ còn ba ngón tay, móng đen nhọn, giống như vuốt của một loài thú hung dữ. Ông Cố nghe xong vô cùng sửng sốt, nhận ra đây không phải tay người mà là vuốt của vật bị nguyền rủa. Ông hỏi Hắc Ngưu liệu có chắc đó là Mao sư phụ không?
Hắc Ngưu kể rằng chỉ nhìn thấy tay qua khe cửa nhỏ trong lúc lo lắng, cúi đầu nhìn vào. Cảnh tượng đó khiến Hắc Ngưu kinh hoàng. Ông cố dặn Hắc Ngưu phải giữ kín chuyện này, không được tiết lộ cho bất kỳ ai, kể cả gia đình hay các sư huynh đệ. Tin tưởng vào tính cách trung thực của Hắc Ngưu, ông Cố không lo lắng về việc bí mật bị lộ.
Tuy nhiên, sự việc khiến ông Cố càng bối rối, đặc biệt là hành vi đóng cửa tự cô lập của Mao sư phụ. Ông suy đoán Mao sư phụ có thể đang sợ hãi trước cái chết, nhưng không muốn thừa nhận nên tự bảo vệ bằng cách cô lập bản thân. Nhưng câu hỏi lớn vẫn là bàn tay đó là gì?
Mao sư phụ đã biến thành vật bị nguyền rủa hay vật đó sống chung với ông trong sân nhà? Quyết định tự mình tìm hiểu, ông cố đến Khai Phong nhờ Hắc Ngưu để ông thay mặt mang đồ và qua cánh cửa nhỏ.
Mao sư phụ không thể nhìn thấy bên ngoài. Và nếu ông Cố không phát ra tiếng, Mao sư phụ cũng không thể biết ai là người mang đồ. Khi ông Cố đang đưa đồ qua khe cửa, một bàn tay từ trong bất ngờ túm lấy tay ông và kéo mạnh vào bên trong. Lực kéo quá mạnh khiến ông không thể thoát ra, chỉ có thể dùng tay còn lại giữ chặt khung cửa, đồng thời hét lớn. Hắc Ngưu ở xa nhìn thấy tình hình liền chạy đến giúp, nhưng cả hai cùng kéo cũng không làm gì được. Ông cố cảm nhận cánh tay mình tê liệt và có nguy cơ bị giật đứt. Ông nghiến răng bạo Hắc Ngưu đi tìm dao để chặt tay cứu mạng.
Nhưng ngay khi Hắc Ngưu rời đi, bàn tay kia bỗng buông ra khiến ông cố mất đả ngã ngồi xuống đất. Ông nhìn cánh tay của mình, thấy ba lỗ máu lớn đang dị máu, xung quanh vết thương tím bầm run rẩy và kinh hoàng. Ông Cố được Hắc Ngưu đỡ dậy, thoát khỏi hiện trường đầy ám ảnh đó.
Khi ông Cố cố gắng rời đi sau sự cố với bàn tay kỳ quái, từ phía sau cánh cửa vọng ra giọng nói của Mao sư phụ, "Không nghe lời, lần sau ta sẽ lấy mạng ngươi." Nghe thì là giọng của Mao sư phụ, nhưng lại có chút gì đó méo mó như thể bị bóc nghẹt không tự nhiên. Ông Cố nhìn đau, cố gắng hỏi: "Cha, rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì?" Nhưng không có câu trả lời. Ông Cố và Hắc Ngưu đành rời đi tìm một tiệm thuốc để băng bó vết thương. Nhưng nỗi băn khoăn trong lòng ông càng lớn. Ông không tin Mao sư phụ thực sự muốn lấy mạng ông, nhưng những vết thương do ba ngón tay sắc nhọn để lại cùng với lời đe dọa khiến ông không khỏi suy nghĩ.
Có phải Mao sư phụ đã thay đổi vì giao dịch với vật bị nguyền rủa hay ông ấy đã thực sự trở thành vật bị nguyền rủa? Thậm chí ông Cố còn suy đoán táo bạo rằng Mao sư phụ có thể đã thực tiện thêm một giao dịch mới. Bất kể là lý do gì, rõ ràng có điều gì đó không ổn. Và ông Cố biết rằng vấn đề này vượt quá khả năng của mình. Quyết định tìm sự giúp đỡ, ông lên kế hoạch nhờ đến các bậc cao nhân của Lỗ Ban Giáo. Ông dặn Khắc Ngưu tiếp tục trông chừng Mao sư phụ, đồng thời giữ kín mọi chuyện.
Tuy nhiên, khi đang trên đường sắp xếp, ông Cố chợt nhận ra rằng nếu Mao sư phụ đã biến thành thứ nửa người nửa quỷ, các cao nhân của Lô Ban Giáo với tính cách của họ có thể sẽ ra tay tiêu diệt ông ấy. Điều này khiến ông lạnh sống lưng. Ông nhận ra, nếu mạo hiểm hành động một cách thiếu suy nghĩ, rất có thể sẽ lại phá hủy kế hoạch của Mao sư phụ như trước đây. Nghĩ đi nghĩ lại, ông quyết định không liên lạc với ai nữa mà quay trở lại Khai Phong, chờ xem mọi chuyện diễn biến thế nào. Dù vậy, ông không dám tự mình mang đồ vào nữa.
Từ ngày xảy ra sự cố, Mao sư phụ không xuất hiện nữa. Hắc Ngưu tiếp tục mang đồ đến, nhưng đồ đạc không được lấy ngay mà chỉ sau một ngày, mọi thứ được trả lại qua khe cửa không hề động đến. Điều này khiến ông Cố lo lắng rằng có thể Mao sư phụ đã gặp chuyện chẳng lành, nhưng ông vẫn không dám phá cửa bước vào. Ba ngày trôi qua trong nối lo lắng, ông Cố cuối cùng quyết định nếu tình hình vẫn không thay đổi, ông sẽ phá cửa.
Tuy nhiên, đúng lúc này, Mao sư phụ bất ngờ xuất hiện trở lại. Ông không chỉ lấy đồ mà còn giao cho Hắc Ngưu một lá thư được niêm phong bằng sác, nhắn gửi Hắc Ngưu đưa cho ông Cố. Hắc Ngưu nhận lá thư từ Mao sư phụ và được dặn mang đến tiệm quan tải Tống gia ở kinh thành, nơi đặt trụ sở của Uy Vũ đường do Kim Cang đứng đầu.
Khi nhận lá thư, ông Cố Ban đầu rất tò mò, thậm chí nghĩ đến việc mở ra xem trước. Nhưng Hắc Ngưu cảnh báo rằng Mao sư phụ đã dặn rõ ai khác ngoài Kim Cang mà đọc lá thư này sẽ gặp họa sát thân. Lời cảnh báo cùng với giọng nói kỳ lạ của Mao sư phụ trước đó khiến ông Cố Lạnh gáy từ bỏ ý định xem lén. Ông hỏi thêm Hắc Ngưu về việc Mao sư phụ có cần người tiếp tục đưa đồ hay không, nhưng Hắc Ngưu cho biết Mao sư phụ đã dặn không cần nữa. Ông Cố suy nghĩ về vị trí chủ nhân Đức Tín Đường. Nếu Mao sư phụ chuyên vị trí đó cho Hắc Ngưu, ông Cố cũng không có ý kiến gì bởi ông đã từ chối cơ hội này từ trước.
Nhưng hiện tại khi Mao sư phụ không truyền lại cho Hắc Ngưu mà lại xa lánh chính ông, người thân cận nhất, ông không tránh khỏi cảm giác khó chịu. Ông tự an ủi rằng Mao sư phụ có lẽ chỉ muốn bảo vệ ông hoặc không muốn ông nhìn thấy bộ dạng đáng thương nhất của mình. Hắc Ngưu làm đúng như lời Mao sư phụ, mang lá thư đến cho Kim Cang. Trong thời gian chờ đợi, ông Cố vẫn kiên nhẫn đứng trước cổng nhà Mao sư phụ suốt hơn một tháng. Không ai mang đồ đến cho Mao sư phụ và bên trong cũng không phát ra tiếng động. Điều này khiến ông cố chắc chắn rằng Mao sư phụ đã biến thành một sinh vật không còn là con người, một người bình thường không thể sống mà không ăn uống trong thời gian dài như vậy.
Một tháng rưỡi sau, khi ông Cố Đăng canh trước cổng, Kim Cang xuất hiện, anh dắt theo một con ngựa, trên đó có một người đàn ông cao lớn, dáng vẻ thanh nhã, khí chất không tầm thường. Nhìn kỹ, ông cố nhận ra nét tương đồng giữa người này và quỷ thủ ở đôi lông mày. Ngay lập tức, ông đoán ra thân phận của người đó. Công thư kỳ, giáo chủ hiện tại của Lỗ Ban giáo. Dù trước đây từng phê phán gia tộc Công Tôn là kẻ nhát gan và yếu đuối, nhưng khi đối mặt với vị giáo chủ huyền thoại này, ông cố không còn lời chỉ trích nào, chỉ còn sự kính nể.
Khi Công Tư Kỳ xuống ngựa và mỉm cười, nhẹ nhàng hỏi: "Ông là Quách Thái Lai Quách lão gia phải không?" "Tôi đã nghe danh ông." Giọng nói ôn hòa cùng phong thái khiêm nhường, không hề mang dáng vẻ uy quyền, khiến ông Cố cảm thấy như gặp được thần tượng quá kích động. Ông chỉ biết xoa tay, không nói nên lời.
Cụ Cố gần như lắp bắp, "Công thư giáo chủ." Người kia hơi ngạc nhiên một chút, nhưng nhanh chóng mỉm cười với Cụ Cố và gật đầu. "Đúng vậy, ta chính là Công Thư Kỳ."
Cụ Cố định nói thêm gì đó, nhưng công thư kỳ đã vỗ vai Cụ Cố và nói: "Đồ vật hãy tạm thời giao cho ông giữ, sau này gia tộc công thư sẽ đến lấy." Dù không nói rõ, Cụ Cố cũng hiểu ngay đồ vật đó là gì. Ông kích động gật đầu lia lịa. Công Thư Kỳ nói xong, bước thẳng đến cánh cửa lớn. Anh ta nhẹ nhàng gõ vài tiếng và nói: "Là ta." Công Thư Kỳ Cụ Cố Trừng lớn mắt, chăm chăm nhìn cánh cửa, tim gần như nhảy ra khỏi lồng ngực, ông thậm chí cảm thấy căng thẳng thay cho Mao sư phụ, trong lòng thầm hét lên, "Cha, nhất định phải sống, công thư giáo chủ đã đến thăm cha rồi, đời cha như vậy đã trọn vẹn, đáng giá."
Một lát sau, cánh cửa phát ra tiếng động, từ mở hé một khe nhỏ. Trong bóng tối mịt mùng, Cụ Cố không thấy được Mao sư phụ ở bên trong. Kim Cang vừa định bước lên thì Công Thư Kỷ giơ tay ngăn lại, "Ông chờ ở đây." Nói xong, Công Thư Kỷ lách qua khẽ cửa vào trong sân. Cánh cửa nhanh chóng khép lại, ngay cả Kim Cang cũng không được phép bước vào.
Cụ Cố kích động quay sang Kim Cang, "Người đó thực sự là công tư giáo chủ, sao có thể liên lạc được với ông ấy? Bao nhiêu năm không gặp, sao ông ấy vẫn trẻ như vậy?" Kim Cang dù đã qua nhiều năm vẫn giữ vẻ ngoài không già đi chút nào, từ 18 tuổi đã trông như ba mươi mấy, dù đến 50 tuổi vẫn không khác gì thanh niên, thời gian dường như không thể để lại dấu vết trên gương mặt ông ấy. Kim Cang đáp: "Trong thư của Mao sư phụ có hai ngón tay đã khổ. Ông ấy bảo tôi tìm cách giao nó cho quỷ thủ, sau đó công tư giáo chủ xuất hiện."
Cụ Cố hỏi: "Không có gì khác sao?" Kim Cang lắc đầu, "Không có." Biết không thể hỏi thêm gì từ Kim Cang, Cụ Cố chỉ biết nhìn cánh cửa, không hiểu vì sao, Cụ Cố đột nhiên cảm thấy lạnh sống lưng, dùng mình kinh hãi.
Sau khi vào sân, Công Tư Kỳ ở trong đó suốt ba ngày ba đêm, nơi này như biến thành một cái lồng giam, ai bước vào rồi thì không thể ra được. Trong khoảng thời gian đó, thỉnh thoảng vang lên tiếng gỗ cọt kẹt, còn lại là sự tĩnh lặng đến đáng sợ. Kim Cang và Cố vẫn đứng bên ngoài canh gác. Gương mặt điềm tĩnh của Kim Cang không để lộ bất kỳ cảm xúc gì, nhưng trong lòng Cụ Cố đã rối bời. Ông không ít lần hỏi Kim Cang, "Chúng ta có nên vào xem không?" Nhưng Kim Cang chỉ lắc đầu đáp: "Họ không gọi thì chúng ta không được vào." Cuối cùng Cụ Cố không thể ngồi yên.
Ông nghĩ sự bình tĩnh của Kim Cang một phần do tính cách, nhưng cũng có thể vì ông ấy không biết chuyện gì đang xảy ra. Cụ Cố thằng thắn nói: "Huynh đệ, tình trạng của Mao sư phụ có lẽ không ổn, có khả năng ông ấy đã biến thành vật bị nguyền rủa." Kim Cang hỏi lại, "Rồi, sao nữa?"
Cụ Cố lo lắng, "Công thư giáo chủ là người cao quý, nếu Mao sư phụ tự kiểm soát được thì không sao, nhưng nếu mất kiểm soát, e rằng sẽ không nhận thân tích mà gây thương tổn. Nếu giáo chủ bị thương thì sao?" Kim Cang nhìn Cụ Cố và hỏi: "Ông lo công thư giáo chủ bị thương hay lo mau sư phụ bị thương?"
Cụ Cố than thở, "Người nào bị làm sao cũng không ổn. Nếu đánh nhau, chẳng phải nước lớn cuốn trôi miếu Long Vương sao?"
"Đừng lo lắng, Kim Cang trấn an. Nếu Mao sư phụ thực sự mất kiểm soát và xảy ra xung đột với giáo chủ, thì giáo chủ cũng không phải là đối thủ của thứ đó. Trong Lỗ Ban giáo, không ai có thể đối phó với thứ đó và cũng không ai dám trực tiếp đối đầu với nó." Kim Cang tiếp tục, "Giáo chủ đã đến đây, chắc chắn biết rằng sẽ không xảy ra trận chiến."
Cụ Cố gật đầu, nhưng vẫn không khỏi lo lắng, cũng không thể không phòng khi có chuyện gì bất trắc. Không phải là ta lo lắng quá mức sao? Kim Cang kiên định đáp lại, không có bất trắc đâu. Nếu Mao sư phụ không hoàn toàn chắc chắn, ông ấy sẽ không gọi giáo chủ đến để dẫn thân vào hiểm nguy. Và nếu giáo chủ không hoàn toàn tự tin, ông ấy cũng sẽ không đến đâu. Đúng vậy.
Cụ Cố nói. Mao sư phụ rất tận tâm với Lỗ Ban Giáo mà điều đó đã chứng minh qua nhiều năm, đặc biệt là khi ông ấy ở Thiên Tân. Cụ Cố hơi dừng lại rồi nhìn Kim Cang. Ông biết không? Đây là lần thứ hai trong gần 100 năm gia tộc công tư xúc với người của Lỗ Ban Giáo. Lần trước khi sư phụ còn sống, giáo chủ công thư đã xuất hiện để nhờ sư phụ giúp đỡ quỷ thủ. Kim Cang ngạc nhiên hỏi lại, "Vậy hai ngón tay khô trong thư có ý nghĩa gì đặc biệt không?"
Cụ Cố Cẩn Trọng hỏi lại, giọng có phần trầm ngâm. "Tôi có cảm giác trong đó ẩn chứa điều gì đó quan trọng. Nhớ lại thời gian ở Thiên Tân, trong hệ thống các đường hầm ngầm của thành phố có những bí mật mà Lố Ban Giáo gọi là vụ án nghìn năm. Công thư gia tộc lúc đó đã im lặng không can thiệp." Kim Cang nghe vậy liền nêu thêm, rồi sau đó những kẻ như Phồn Mãn Lâu phản bội giáo chạy sang phe gia tộc Lôi. Điều này đã tạo nên một mối đe dọa lớn cho Lố Ban Giáo. Vì trước đó dù có khó khăn không ai từng nghĩ đến việc từ bỏ giáo và chưa từng có ai đứng về phía đối thủ của Lỗ Ban Giáo.
Cụ Cố khẽ gật đầu rồi tiếp tục kể. Dù vậy gia tộc công thư vẫn không có ý định nhúng tay vào. Họ thậm chí còn không chịu nói một lời giúp đỡ, mặc dù chỉ cần một câu nói để cứu giúp. Vậy mà mau sư phụ chỉ cần giao hai ngón tay ấy, giáo chủ liền xuất hiện. Không lẽ thông tin trong hai ngón tay đó lại có giá trị lớn hơn mọi chuyện? đã xảy ra sao?" Kim Khang trả lời, "Tôi không biết, nhưng nhớ lại lần Phồn Mãn lâu tìm gặp tôi, anh ấy nói từ gia tộc Lôi có dấu hiệu gì đó, tôi cũng từng biết rằng trước đây đạo đức tín đường đã có liên hệ với gia tộc Lôi."
Cụ Cố nghe xong không khỏch tức giận, vậy mà Phồn Mãn Lâu lại là kẻ phản bội giáo, giờ lại chuẩn bị vu cáo Mao sư phụ. Mao sư phụ với Lỗ Ban Giáo luôn trung thành, trời đất trứng giám. Kim Cang, huynh có quên chuyến đi Tiên Tân của chúng ta không? Kim Cang nhìn Cụ Cố và hỏi lại, chuyến đi Tiên Tân là thế nào nhỉ?
Cụ Cố không kiềm chế được, nghiêm mặt nói: "Chuyến đi Tiên Tân là do gia tộc Lôi cố tình hãm hại Mao sư phụ, tạo ra một âm mưu và vu cáo ông ấy không trung thành." Kim Ca nghe xong lại thắc mắc, "Cu Cố, trước đây Mao sư phụ và gia tộc Lôi có liên lạc không?"
Cụ Cố ngập ngừng rồi đáp: "Trước đó không có." Nhưng rồi nhớ lại một chi tiết quan trọng, ông nói tiếp, "Có một chuyện Mao sư phụ đã kể cho tôi nghe, đó là khi Mao Thiên Tứ, cha của Mao sư phụ còn sống."
Cụ Cố khựng lại một lúc rồi tiếp tục. Ngày xưa Mao Thiên Tứ từng mắc nợ gia tộc Lôi, cho nên Lôi Diên Trương nhờ một ân huệ. Lôi Diên Trương đề xuất muốn tận mắt chứng kiến lời nguyền của Lỗ Ban Giáo vào những năm cuối đời. Vì thế Mao Thiên Tứ không thể từ chối. Vì vậy Lôi Diên Trương đã dẫn theo Lôi Hiến Tài đến nhà Mao gia, cùng nhau trải qua cơn phong ba của lời nguyền. Lúc còn nhỏ, Lôi Hiến Tài và Mao sư phụ cũng vì sự kiện này mà quen biết.
Nhiều năm sau gặp lại, họ còn gọi nhau là huynh đệ. Câu chuyện này hoàn toàn hợp lý. Khi đó cố của ta vẫn trong trạng thái mơ hồ về lỗ bàn giáo và lôi ra. Cộng thêm sự tin tưởng tuyệt đối vào Mao sư phụ, Cụ Cố không hề cảm thấy có gì sai sót trong chuyện này. Giờ đây khi Kim Cang nói như vậy, Cụ Cố lại cảm thấy câu chuyện mau sư phụ kể có nhiều điểm mâu thuẫn. Lôi gia đối với Lỗ Ban Tổ sư không tôn kính không phải vì muốn tránh lời nguyền mà bởi vì họ theo học giáo lý của Lỗ Ban Giáo. Họ thừa nhận mình tiếp nhận truyền thừa của Lỗ Ban nhưng vẫn luôn tìm cách phá bỏ lời nguyền mà Lỗ Ban để lại cho họ.
Nói cách khác, người trong Lôi gia thực chất không thể thoát khỏi lời nguyền. Họ cũng chịu khổ đau vì nó. Vậy thì Lôi gia làm sao có thể tò mò về lời nguyền của Lỗ Ban Giáo được?
Cụ Cố nghĩ đến đây đột nhiên hoảng sợ. Mao sư phụ là nhạc phụ của ông, là tri kỳ, là niềm tin của ông, ông không thể để niềm tin của mình bị sụp đổ. Vì vậy ông gần như kích động nói với Kim Cang, "Tôi biết ngươi đang nói đến chuyện gì, nhưng điều này không thể chứng minh vấn đề gì." Lúc đó thân phận của Lôi gia vẫn chưa rõ ràng, không ai biết Lôi gia có giống Lỗ Ban Giáo hay không, có phải họ cũng chịu lời nguyền hay không? Mọi người thậm chí còn cho rằng Lôi gia không giống Lỗ Ban giáo có thể tránh được lời nguyền, dù đều là thợ mộc đều tu luyện pháp thuật Lỗ Ban, một bên bị nguyền rủa, một bên không bị.
Một người không bị nguyền rủa lại tò mò về lợi nguyền là chuyện hoàn toàn hợp lý. Còn về việc liên kết với Lôi gia, Lỗ Ban Giáo đã suy yếu từ lâu, những thợ mộc không còn đường lui đã đến Lôi gia. Điều này có thể chứng minh điều gì chứ? Kim Cang bình tĩnh nói: "Ngươi đừng kích động." Sau đó ông đổi giọng, "Chuyện này không thể chứng minh rằng đắc tín đường có liên hệ bí mật với Lôi gia, những gì ngươi nói cũng có thể có lý." Nhưng Lôi Diên Trương tò mò về lời nguyền của Mao Thiên Tứ vào những năm cuối đời. Điều này chứng tỏ một vấn đề rất quan trọng đó là lời nguyền của đắc tín đường không giống với lời nguyền của những người khác kể cả Lôi gia và những người trong Lỗ Ban giáo.
Nếu nó giống hệt nhau, sao Lôi Diên Trương phải tò mò đến vậy? Câu nói này khiến Cụ Cố không còn lời nào để phản bác vì suy luận này hợp lý và có căn cứ.
Cụ Cố không thể chỉ đơn giản phản bác rằng có lẽ Lôi Diên Trương bị đau bụng. Cụ Cố nói tiếp, "Tôi dĩ nhiên không dễ dàng tin vào lời của Phong Manh Lâu. Tôi vẫn tin tưởng vào phẩm hạnh của Mao sư phụ, nhưng đắc tín đường quả thật có nhiều điều kỳ quái. Câu này lão gia của họ Quách cũng đã từng trải qua. Lần này gặp quỷ thủ, tôi đã hỏi ông ấy về vấn đề này. Tôi cũng đã nhận được một vài manh mối từ quỷ thủ. Quỷ thủ bảo tôi đặc tín đường thực sự khác biệt so với những nơi khác. Tất cả những điều này bắt nguồn từ cuốn sách mật mà Yên Tam Hội để lại trước khi gia nhập giáo.
Trước khi gia nhập Lỗ Bàn Giáo, thân phận của Yên Tam Hội là một trong những người đặc biệt nhất trong lịch sử Lỗ Bàn Giáo. Lão gia Quách chắc chắn hiểu tôi đang nói gì. Kim Cang gật đầu nói: "Tôi hiểu rồi."
Cụ Cố gật đầu đáp: "Có người sẽ hỏi, chẳng lẽ Yên Tam Hội lại đặc biệt hơn cả hoàng đế Thiên Khải vị hoàng đế thợ mộc này?" Câu trả lời là đúng vậy, thực sự Yên Tam Hội đặc biệt hơn cả Tiên Khải hoàng đế. Sự đặc biệt của Tiên Khải hoàng đế chẳng qua chỉ nằm ở thân phận hoàng đế của ông ta, nhưng về bản chất đó chỉ là sự khác biệt cho nghề nghiệp trước khi gia nhập giáo. Nói một cách nghiêm ngặt, nghề nghiệp có cao thấp nhưng không có quý tiện, mọi sinh linh đều bình đẳng.
Tuy nhiên, sự khác biệt và đặc biệt của Yên Tam Hội lại được đánh giá từ góc độ của Huyền Môn. Yên Tam Hội là ai? Đó chính là thiên tài trưởng lão của Mao Sơn năm xưa. Nếu không có gì bất ngờ, ông ta sẽ trở thành người cầm lái mới của Mao Sơn. Lỗ Ban giáo dù có thời kỳ hưng thịnh, giáo chúng đông đạo, nhưng từ góc độ huyền môn, đạo gia mới là chính thống mà thế nhân công nhận. Việc tu tiên cầu trường sinh mới là đại đạo. Những con đường như Lỗ Ban Giáo hay Mù phái chỉ là tạp học, những tri thức vụn vặt bên lể, đây cũng là lý do Lỗ Ban Tổ Sư bị gọi là tạp gia.
Vì vậy khi Yên Tam Hội gia nhập Lỗ Ban Giáo, hành động này bị Huyền Môn coi là tự hạ thấp thân phận, từ đại đạo chuyển sang tiểu đạo, theo cách nói ngày nay chính là hạ giá. Mặt khác, Yên Tam Hội mang theo những mật pháp đại đạo mà ông tu luyện tại Mao Sơn làm của hồi môn cho Lỗ Ban Giáo. Có người nói: "Pháp lực của Thanh Thần đạo trưởng không bằng Mao sư phụ hay người trong Kim Cang, điều này chứng tỏ đại đạo cũng chẳng mạnh hơn là bao. Đây hoàn toàn là sai sự thật."
Mao sư phụ từng nhiều lần nói với Cố, pháp của Lỗ Ban giáo mạnh ở chỗ nhanh chóng thành công, có thể nhanh chóng đạt được thiên vận. Phép thuật của Lỗ Ban không cần pháp lực làm nền tảng mà sử dụng khí cụ phối hợp với phù chú thần chú để xác minh. Có thể nói, chỉ cần nắm được cách hóa phủ, chế tạo và sử dụng thần chú, ngay cả người bình thường cũng có thể thực hiện được. Nhưng pháp thuật của Huyền Môn lại chú trọng vào việc nuốt khí, điều tức, tu dưỡng thân tâm qua năm tháng để đạt được trưởng sinh, tiền đồ của nó không thể so sánh được.
Giống như một người học trưởng kỹ thuật 3 năm để có việc làm, ngay lập tức không thể so sánh với người học hàng chục năm để đạt được học vị tiến sĩ. Lúc này Cụ Cố cũng hiểu ý tứ trong lời của Kim Cang. Chính vì thân phận đặc biệt của Yên Tam Hội trong Huyền Môn đã khiến bộ sách Bí thuật mà ông để lại cơ yếu tập trở thành một tác phẩm vô giá kết hợp giữa Mao Sơn Đạo Tông và kinh điển của Lỗ Ban. Họ đã biết trước rằng nội dung trong cơ yếu tập phần lớn đều vô cùng bá đạo, bao gồm cả bá vương phù giáp nội danh, thiên hạ và phép thuật có thể giao tiếp với những vật bị nguyền rủa.
Mau sư phụ cũng thừa nhận rằng nội dung của Cơ Yếu tập vượt xa những gì họ từng biết. Kim Cang nhấn mạnh rằng ông và quỷ thủ đều tin rằng Cơ yếu tập có chứa những ghi chép về lời nguyền của giáo phái. Điều này là thứ mà Mao sư phụ luôn cố tình che giấu.
Sau khi Đức Tín Đường có được cơ yếu tập, họ đã sử dụng nội dung trong đó để đối phó với lời nguyền. Điều này khiến các chưởng môn của Đức Tín Đường khi đến cuối đời đều gặp những hoàn cảnh khác biệt so với các môn đồ khác của Lỗ Ban Giáo. Nói cách khác, việc các chưởng môn của Đức Tín Đường gặp phải những sự kiện kỳ lạ trước khi qua đời là độc nhất vô nhị. Đây chính là lý do thực sự khiến Lôi Diên Trương muốn đến Đức Tín Đường để chứng kiến tình cảnh của Mao Thiên Tứ trước khi ông qua đời. Đức Tín Đường đã sử dụng những bí thuật trong cơ yếu tập dẫn đến biến cố trong những chuyện liên quan đến lời nguyền.
Tin tức này được Đức Tín Đường phong tỏa cực kỳ nghiêm ngặt. 37 đường khẩu khác của Lỗ Ban Giáo trước đây hoàn toàn không hề hay biết. Nhưng tại sao Mao Tiên Hồng lại mời Lôi Diên Trương đến quan sát?
Mao sư phụ nói rằng đó là vì Mao Thiên Tứ nợ Lôi Diên Trương một ân tỉnh lớn, nhưng bạn nghĩ thế có hợp lý không? Một ân tỉnh lớn đến mức nào mới khiến họ làm điều đó? Kim Cang hỏi nợ ân tình lớn đến đâu mới được như vậy?
Cụ Cố không tìm được cách nào để biện hộ cho Đức Tín Đường, thậm chí điều này còn khiến cụ suy nghĩ nhiều hơn, chỉ riêng câu nói cuối cùng của Kim Cang cũng đủ để cụ gần như lập tức phủ nhận, không thể nào chỉ vì ân tình. Làm gì có ân tình nào quan trọng hơn việc này.
Khi Cụ Cố thốt ra câu nói đó, dường như những lời tiếp theo cũng không cần phải nói. Cụ và Kim Cang đã hiểu ý nhau mà không cần giải thích. Lôi Diên Trương đến Đức Tín Đường năm đó để quan sát cảnh tượng lời nguyền trước lúc lâm trung của Mao Thiên Tứ, phần lớn là do Mao Thiên Tứ mời. Nhưng tại sao Mao Thiên Tứ lại mời Lôi Diên Trương? Chỉ có một khả năng hợp lý nhất, Đức Tín Đường đã gặp phải bế tắc. Dù họ đã dùng bí pháp từ cơ yếu tập để khiến lời nguyền trở nên khác biệt, họ vẫn không thể tránh khỏi lời nguyền. Vì thế họ mời Lôi gia đến với hy vọng tìm ra bước đột phá từ Lôi gia.
Nói đến đây, khi nhìn lại những lời của Phong Mãn Lâu nói với Kim Cang rằng đức tín đường của Mao gia đã từng liên hệ với Lôi gia, mọi chuyện trở nên hợp lý.
Cụ Cố cảm thấy cay đắng, không muốn chấp nhận rằng Đức Tín Đường và Mao sư phụ lại có bất cứ điều gì tiêu cực. Nhưng như Cụ Cố từng nói, mỗi lần gặp chuyện như thế này, cụ luôn cảm thấy niềm tin của mình sụp đổ.
Tuy nhiên sự thật đã hiện rõ, cụ không biết phải nói gì thêm. Thật ra cũng chẳng có gì đâu. Kim Cang như thể nhìn thấu những gì Cụ Cố nghĩ, nói. Phải không?
Cụ Cố cười khổ, Đức Tín Đường không vi phạm quy tắc của Lỗ Ban Giáo. 37 đường khẩu đều có thể sở hữu bí pháp riêng mà không cần tiết lộ cho người khác. Họ cũng không cần phải giải thích với bất kỳ ai. Lúc trước ta thấy không ổn, chỉ vì chuyện này liên quan đến truyền thừa của giáo phái nên không nên giữ bí mật. Nhưng bây giờ xem ra giáo chủ có khả năng biết rõ những gì xảy ra tại Đức Tín Đường. Giáo chủ có thể hiểu ý Mao sư phụ chỉ bằng hai ngón tay khô kia, đây chính là bằng chứng trực tiếp nhất. Việc giáo chủ cho phép họ làm vậy, càng chứng tỏ Đức Tín Đường không làm sai, thậm chí có khả năng cao rằng cuộc gặp gỡ bí mật giữa Mao Thiên Tứ và Lôi Diên Trương là được giáo chủ Ngâm cho phép.
Ai mà biết được chứ? Kim Cang nói. Tại sao một chuyện đơn giản lại bị làm phức tạp thế này? Kim Cang tiếp tục. Kim Cang huynh cho phép ta nói thẳng. Anh em trong Lỗ Ban giáo chúng ta thực sự rất sợ lời nguyền này, đúng không? Vậy tại sao không công khai đối mặt với lời nguyền như Lôi gia làm mọi thứ cứ thần bí căng thẳng? Thật ra trông như sợ hãi vậy.
Cụ Cố thở dài. Kim Cang nhìn cánh cửa đó, ánh mắt như đang xuất thần, dường như ông đang tự nói chuyện với mình, nhưng cũng như đang trả lời Cụ Cố. Chỉ là một câu hỏi lựa chọn. Lời nguyền của tổ sư là để hại con cháu hay để giúp họ? Người muốn ngươi chết chưa chắc đã muốn hại ngươi, người muốn ngươi sống cũng chưa chắc đã muốn giúp ngươi. Lỗ Ban Giáo đã chọn tin vật tổ sư, và vì thế họ tôn kính hậu duệ của tổ sư gia tộc công thư. Nếu Lố Ban Giáo cũng đứng lên chống lại lời nguyền thì sự tồn tại của gia tộc công thư còn có ý nghĩa gì nữa?
Cụ Cố lập tức hiểu ra tất cả. Đây thực sự là một sự rằng xé khó diễn tả bằng lời. Cả hai không nói chuyện thêm nữa. Mặc dù Kim Cang không coi Cù Cố là người ngoài, nhưng nói đúng ra Cụ Cố thực sự không phải là môn đồ của Lỗ Ban Giáo. Những gì họ bàn bạc chỉ giới hạn trong những trải nghiệm chung trước đây. Những chuyện khác Kim Cang không muốn nói với Cụ Cố và Cụ Cố cũng cảm thấy đau đầu vì điều đó. Đôi khi lắng nghe cụ cảm thấy tò mò và muốn biết thêm nhưng trong lòng lại bài xích những điều đó. Bởi vì đây vốn dĩ là một câu đố không có lời giải, Cụ Cố chỉ quan tâm mau sư phụ hiện giờ ra sao.
Cả hai không ai biết được điều gì đã xảy ra trong căn nhà cao tường đó. Mãi đến đêm ngày thứ tư, cánh cửa bỗng mở hé ra một khe nhỏ. Công thư kỳ thò đầu ra từ khe cửa gọi: "Quách Thái Lai, ngươi vào đi."
Cụ Cố, người đã đợi bên ngoài đến mức đầu óc mụ mị, bất ngờ tỉnh dậy, ông run lên một cái, kích động bước nhanh vào cánh cửa đó. Đây là lần đầu tiên ông vào căn nhà này sau nhiều năm.
Cụ Cố vô cùng lo lắng và cũng rất tò mỏ Mao sư phụ giờ đã trở thành thế nào. Khi ông bước vào trong, Công Tư Kỳ liền khép cửa lại. Cụ Cố nhìn thấy trong sân nhà quen thuộc của Mao Gia, đèn lồng đỏ treo đầy khắp nơi, không phải kiểu trang trí rực rỡ mà là chen trúc dày đặc, gần như mọi vị trí có thể treo đều đã treo đèn lồng. Nhìn từ cổng vào phía ngôi nhà, sân trông như một khuôn mặt quái dị khổng lồ.
"Đi theo ta." Công thư kỳ nói. Cụ Cố máy móc đi theo sau công thư kỳ đến phòng của mau sư phụ. Trong phòng, ánh sáng từ đèn lồng đỏ bên ngoài chiếu vào khiến căn phòng tràn ngập sắc đỏ. Đây là căn phòng rất quen thuộc với Cụ Cố nơi ông từng cùng Mao sư phụ thâu đêm trò chuyện và thậm chí từng ở lại qua đêm. Nhưng lúc này trong phòng không thấy bóng dáng Mao sư phụ, thay vào đó là một cỗ quan tài mới tinh được đặt giữa phòng.
"Thái lai, đừng tìm nữa, ta ở đây." Một giọng nói truyền ra từ trong quan tài. Cố quỳ sụp xuống trước quan tải, nước mắt rơi không ngừng. Ông vừa khóc vừa nói: "Cha, đã bao năm nay con biết tình trạng của cha không tốt, nhưng chẳng lẽ đến cuối cùng cũng không cho con gặp mặt cha lần cuối sao? Có những thứ không nên nhìn thịt tốt hơn. Mau sư phụ trả lời. Trên giường có một chiếc hòm, bên trong là truyền thừa của Đức Tín Đường. Chiếc hòm này ta để lại cho con. Ta biết con không muốn nhập giáo, cũng sẽ không ép con tiếp nhận Đức Tín Đường. Con chỉ cần bảo quản nó như cây gậy rồng đầu là được.
Khi thời điểm thích hợp, con hãy giao nó cho người phù hợp. Cha cứ yên tâm, Thái Lai nhất định sẽ bảo vệ nó thật tốt. Cố đáp: "Ta chết rồi, giáo chủ và Kim Cang sẽ đưa ta đi. Trong gian chính còn một cỗ quan tài khác, bên trong có đồ tùy thân của ta. Sau bảy ngày kể từ hôm nay, ta không có con nối dõi, coi là con rể ta, con sẽ là người đại diện cho ta. Con hãy nhờ Thanh Thần đạo trưởng chọn ngày giở tốt để làm lễ tang và chôn cất cố quan tài đó cạnh mộ cha ta. Xem như ta Mao Thiên Hồng đã lá rụng về cội an giấc ngàn thu.
Cha củ cố gục xuống khóc lớn. Mao sư phụ nói: "Đừng khóc, ta vốn dĩ đen nên chết từ lâu rồi, sống thêm được 10 năm, ta đã mãn nguyện." Nói xong, từ trong quan tài bỗng phát ra âm thanh kỳ lạ, sau đó là tiếng móng tay cào vào nắp quan tải. Dường như Mao sư phụ người vừa bình thản đối mặt với cái chết đột nhiên đổi ý, cố gắng thoát khỏi quan tài. Đứng bên cạnh, Công Thư Kỳ ho nhẹ một tiếng rồi đưa tay vỗ lên quan tài. Âm thanh bên trong ngay lập tức biến mất. Cha!
Cụ Cố thử gọi, nhưng không có tiếng trả lời từ trong quan tài. Công Thư Kỳ nhìn Cụ Cố nói: "Mao sư phụ đã đi rồi, đừng khóc nữa, sinh lão bệnh tử không ai tránh được."
Cụ Cố trong lòng đau buồn vô hạn, sinh ly tử biệt vốn là điều tương tình trong nhân gian, nhưng có ai thực sự đối mặt được với nó một cách bình thản? "Ta có thể gặp cha lần cuối được không?" Củ Cố nhìn Công Thư Kỳ hỏi. Công thư Kỷ lắc đầu, vẻ mặt điềm tĩnh. Lôi Diên Trương sau khi nhìn thấy Mao Thiên Tứ lúc Lâm Trung trở về kinh thành liền đột ngột qua đời, "Ngươi chắc chắn muốn nhìn sao?"
Cụ Cố há hốc miệng, không biết phải trả lời thế nào. Công Thư Kỳ vỗ vai Cụ Cố nói: "Chuyện này đến đây là kết thúc rồi, ngươi có hiểu không? Chuyện con trai ngươi muốn bái tổ sư không phải ta vô tình không đáp ứng, mà là vì ngay cả ta cũng không rõ hậu quả, ngươi đừng để bụng chuyện này." Nói xong, Công Thư Kỳ gọi Kim Cang đang đứng ngoài cửa bước vào. Kim Cang đi vào, nhất quan tài lên vai. Trong khi Công Thư Kỳ đi trước dẫn đường, còn Kim Cang mang quan tài theo sau, hai người dần dần biến mất vào màn đêm.
Lúc này Cố hiểu được lý do thực sự mau sư phụ không chọn Hắc Ngưu làm người kế nhiệm. Có những việc ông ấy cần xin chỉ thị từ công thư giáo chủ. Và câu đến đây là kết thúc rồi của công thư giáo chủ dường như đã định đoạt cả Mao sư phụ và Đức Tín Đường. Từ hồi ký của Cố có thể thấy ông là một người phong kiến và bảo thủ. Quan niệm bất hiếu có ba vô hậu vi đại, không có con nối dõi là bất hiếu lớn nhất, chi phối suy nghĩ của ông, mối quan hệ với lố bàn giáo, thậm chí cả câu chuyện cuộc đời cụ bắc nguồn từ việc Hoàng Đại Tiên tặng ông sự giàu có.
Nhưng cũng chính điều đó đã dẫn đến những hệ lụy tâm linh. Trong hồi ký, Cu Cố nhắc đến bốn người con của mình, Quách Bình An, Quách Phá Lỗ, Quách Tiểu Muội và Quách Đăng Khoa. Trong số này, người được nhắc đến nhiều nhất chính là đứa con đầu Quách Bình An. Đặc biệt khi viết về câu chuyện của Quách Bình An, từng câu chữ đều thể hiện sự áy náy và hoài niệm của Cụ Cố. Điều này có lẽ bởi khi tuổi già người ta thường dễ xúc động và hay nhớ về những gì đã mất càng khiến lòng người thêm lưu luyến. Vì nhiều lý do khác nhau, cả Quách Bình An, Quách Phá Lỗ và cô con gái đều không thể ở bên Cụ Cố trong những năm cuối đời.
Người duy nhất ở lại bên ông và nối dõi tông đường là Quách Đăng Khoa, đứa con của Cụ Cố và Mao Tường Vân. Thế nhưng trong hồi ký của Cụ Cố, các chi tiết về Quách Đăng Khoa lại vô cùng ít oi. Ngoài việc lúc đầy tháng cậu bé bị mù phái nguyền rủa và năm lên ba lại gặp phải tai họa, những năm tháng còn lại gần như không được nhắc đến. Lý do của sự im lặng này phải được tìm hiểu từ chính cuộc đời của Quách Đăng Khoa. Những điều sau đây về cuộc đời của ông không được ghi chép trong hồi ký của Cụ Cố mà là những câu chuyện truyền miệng trong gia đình, sau đó được tổng hợp lại để bổ sung.
Theo giao phả họ Quách, Quách Đăng Khoa sinh năm Bính Thân, tức năm Quang Tự thứ 22 năm 1896. Từ H Thái Hậu qua đời vào năm 1908 và Nhà Thanh kết thúc vào năm 1912 khi hoàng đế phổ nghi thoái vị đánh dấu sự ra đời của Trung Hoa Dân Quốc. Trong hồi ký, Cụ Cố viết rõ ràng rằng những năm cuối của triều đại nhà Thanh, việc kinh doanh của gia đình gần như hoàn toàn phụ thuộc vào một người ở kinh thành. Dù bề ngoài Cụ Cố là ông chủ, thực chất ông chỉ là một người làm thuê nhưng cuối cùng vì người đó gặp tai họa. Cộng thêm tình hình suy yếu của nhà Thanh, Cụ Cố cũng mất đi chỗ dựa.
Là một thương nhân bảo thủ, Cụ Cố đã bỏ lỡ cơ hội tốt nhất để chuyển đổi kinh doanh trong giai đoạn thay đổi đó. Cộng với sự bất ổn của thời cuộc, công việc kinh doanh của gia đình Quách chịu tổn thất nặng nề chưa từng có. Cuối cùng Cụ Cố phải hy sinh nhiều mạng kinh doanh, chuyển đổi tài sản thành ruộng đất và bắt đầu cuộc sống nhàn nhã với tư cách một phú ông ngồi ăn núi lờ.
Tuy nhiên, đó cũng được coi là một quyết định sáng suốt. Từng là người đứng đầu của thương hội phụ cận ở Lạc Dương, Cụ Cố không còn đủ sức cạnh tranh khi Trung Nguyên Thương Hội được thành lập vào năm thứ ba của Trung Hoa Dân Quốc 1914. Gia tộc họ Quách đã lùi về sau, không còn giữ được vị thế huy hoàng của ngày xưa. Nhưng ngay cả khi ở vào tình trạng xa sút, gia đình Quách vẫn giữ được sự ổn định, ít nhất là so với những khó khăn của thời cuộc.
Tuy nhiên, sự bảo tụ và thiếu tầm nhìn khiến Cụ Cố không còn cơ hội để đưa gia đình vượt qua thời kỳ biến động lớn. Trong làn sóng mới, Cụ Cố đã chọn cách đối mặt với khó khăn, giữ vững nền tảng và ít nhất là kịp thời chuyển đổi tài sản để giảm thiểu tổn thất. Theo kế hoạch của Cụ Cố, nếu không có biến cố xảy ra, tài sản và đất đai của gia tộc quách đủ để các thế hệ sau sống sung túc, trở thành một gia đình điện chủ an nhàn. Không thể trách Cụ Cố vì tầm nhìn hạn chế bởi đây cũng là lựa chọn phổ biến của tầng lớp địa chủ thời bấy giờ.
Xã hội phong kiến hàng ngàn năm tan dã, sự thoái vị của hoàng đế dẫn đến tình trạng bất ổn và việc giữ mình an toàn rõ ràng là lựa chọn khôn ngoan nhất. Do đó, nhiệm vụ mà Cụ Cố giao cho Quách Đăng Khoa không phải là mở rộng kinh doanh hay xây dựng sự nghiệp lớn lao mà là bảo vệ gia sản, sống một đời no đủ, làm một công tử sung túc. Cả đời Cụ Cố phải chịu nhiều thiệt thỏi vì thiếu học vấn nên sau này luôn dành thời gian để học chữ, đọc sách. Vì vậy cụ cũng đặt nhiều kỳ vọng vào việc học tập của Quách Đăng Khoa. Dù tình hình kinh doanh của gia đình ra sao, Cụ Cố vẫn mời những thầy giáo giỏi nhất ở Lạc Dương để dạy cho Quách Đăng Khoa.
Ban đầu Quách Đăng Khoa học theo chương trình cũ, tức là Tứ Thư Ngũ Kinh và Văn Bát Cổ. Đến khi Trung Hoa Dân Quốc thành lập, Quách Đăng Khoa đã 16 tuổi. Lúc đó Cụ Cố lại gửi ông đi học tiếp để tiếp nhận nền giáo dục mới. Nhìn bề ngoài, Cụ Cố đã dồn rất nhiều tiền bạc và công sức để đào tạo Quách Đăng Khoa, dường như không có điều gì sai sót. Nhưng nếu phân tích kỹ có thể thấy kỳ vọng và cách nuôi dạy Quách Đăng Khoa của Cụ Cố lại đi ngược nhau. Được tiếp nhận tư tưởng mới, Quách Đăng Khoa tất nhiên không thể hài lòng với việc chỉ bảo vệ gia sản như Cụ Cố mong muốn.
Theo gia phả, năm 21 tuổi khi trở về Lạc Dương Cụ Cố bắt đầu sắp xếp hôn sự cho Quách Đăng Khoa. Đồ tuổi này khi đó đã là tuổi kết hôn. Cụ Cố chọn một tiểu thư họ Triệu, con gái của một người bạn làm ăn ngày trước. Với tính cách và tầm nhìn của Cụ Cố, gia đình họ Triệu cũng là một gia đình địa chủ bảo thủ. Tiểu thư họ Triệu được nuôi dạy theo quân mẫu cũ, tuân thủ Tam tổng Tứ Đức, giữ vai trò tề gia nội trợ.
Tuy nhiên, Quách Đăng Khoa, người đã chịu ảnh hưởng của nền giáo dục mới, không muốn cưới một cô gái bảo thủ như vậy. Đây cũng là lần xung đột đầu tiên về tư tưởng giữa hai cha con. Cuộc xung đột này kết thúc với việc Quách Đăng Khoa nhượng bộ, đồng ý trở về nhà kết hôn. Nhưng ngay sáng hôm sau lễ cưới, Quách Đăng Khoa để lại một bức thư rồi bỏ đi. Về chuyện này, có một giai thoại lưu truyền rằng vào đêm tân hôn, khi Quách Đăng Khoa thấy đôi chân bó nhỏ theo thẩm mỹ tam tấc Kim Liên của cô dâu, một tiêu chuẩn sắc đẹp méo mó của xã hội cũ, ông đã nôn mửa ngay tại chỗ.
Dù cô dâu rất xinh đẹp, ông không thể chấp nhận được đôi chân dị dạng này. Hành động bỏ trốn sau ngày cưới khiến Cù Cố vô cùng tức giận, còn nhà họ Triệu cũng kéo đến chất vấn.
Tuy nhiên, cả hai gia đình đều là gia đình có danh tiếng, không muốn làm lớn chuyện. Họ cố gắng gọi Quách Đăng Khoa trở về để tiếp tục cuộc sống hôn nhân. Với người lớn, họ chỉ nghĩ rằng đây là hành động bồng bột của một đứa trẻ ngỗ nghịch.
Cụ Cố quyết định cắt nguồn tài chính của Quách Đăng Khoa, tin rằng khi cạn kiệt tiền bạc, ông sẽ buộc phải quay về. Nhưng cả Cụ Cố lẫn ông Triệu đều đã đánh giá tấp Quách Đăng Khoa. Trong bối cảnh thời đó, khi 98% dân số mù chữ, Quách Đăng Khoa, người từ nhỏ đã học tư cục vào 16 tuổi đi học nền giáo dục mới, thực sự là một nhân tài xuất chúng. Một người tài năng như vậy sao có thể chết đói được?
Khi làn sóng văn hóa mới đang tràn ngập khắp nơi, đây là thời kỳ hoàng kim cho những người trẻ tuổi đam mê học vấn. Quách đăng khoa với tư tưởng cấp tiến, văn tải xuất chúng, nhanh chóng nội danh tại tỉnh thành cùng với Tề Tư Viễn, Lục Thiên Minh và Lý Hán Lâm được gọi là tứ đại tài tử Trung Nguyên. Ông là một thanh niên anh hùng xuất chúng, luôn nổi bật ở bất kỳ đâu. Các bài viết của ông thường xuyên được đăng trên các tờ báo thời đó.
Cụ Cố khi đọc được những bài báo của con trai, nghe được tin tức từ quản gia Ngô mang về, cũng không biết nên vui mừng hay lo lắng. Những điều mấy mẹ của thời đại mà người trẻ theo đuổi Cụ Cố không thể hiểu hết. Nhưng là một người cha già, nhìn thấy con trai thành công, cụ không khỏi cảm thấy an ủi. Chỉ đáng thương cho cô con dâu mới bước chân vào nhà đã trở thành quả phụ, phải chịu cảnh lẹ loi khi còn rất trẻ. Thời thế chưa bao giờ do con người tạo ra, mà chính thời thế tạo ra con người. Dù Trung Hoa Dân Quốc đã thành lập, xã hội vẫn chưa ổn định.
Đó là một xã hội dị dạng, nửa thực dân, nửa tư bản, nơi mà các cường quốc và giới tư sản mới cũ kiểm soát mạch sống quốc gia. Những người trẻ tuổi giác ngộ lúc bấy giờ còn mạnh mẽ hơn cả thế hệ thanh niên giận dữ hiện tại. Các mâu tuấn xã hội ngày càng nổi bật, phong trào chống hàng ngoại, yêu nước và khẩu hiệu thực nghiệp cứu quốc liên tục giấy lên khắp nơi. Là một lãnh đạo trong nhóm tài tử Trung Nguyên, Bách Đăng Khoa không thỏa mãn với việc chỉ hô hảo khẩu hiệu mà quyết định cùng Tề Tư Viễn bắt tay vào làm thực nghiệp, lấy thực nghiệp cứu quốc, làm thực nghiệp cần vốn và dù tài năng văn chương của Quách Đăng Khoa đủ để ông sống no đủ bên ngoài nhưng không thể cung cấp đủ để khởi nghiệp.
Vì vậy ông trở về nhà dùng lời lẽ hùng hồn để thuyết phục Cụ Cố về kế hoạch lớn lao và tầm nhìn vĩ đại của mình. Với sự nhiệt huyết và quyết tâm của tuổi trẻ, ông tin chắc Cụ Cố sẽ đầu tư cho ông. Nhưng Cụ Cố người đã trải qua nhiều biến động thăng trầm, hiểu rõ những nguy hiểm của thế gian. Sự hùng hồn của Quách Đăng Khoa trước cụ chỉ là sự non nớt.
Cụ Cố biết rằng thời kỳ càng hỗn loạn, việc kinh doanh càng khó khăn nên mới từ bỏ thương trường trước đây. Tuy nhiên, để không làm nạn lòng con trai, Cụ Cố đồng ý rằng nếu Quách Đăng Khoa sống yên ổn với cô dâu họ Triệu và có con, cụ sẽ đầu tư vốn cho ông kinh doanh. Tất nhiên Quách Đăng Khoa không đồng ý, nhưng lời thuyết phục của ông đã lay động cô dâu họ Triệu. Dù Quách Đăng Khoa không hề để mắt đến cô, nhưng cô lại mê mẩn người chồng trẻ với tư tưởng tiến bộ và nhiệt huyết của thời đại. Cô dâu họ Triệu đã lấy tiền hồi môn của mình để hỗ trợ Quách Đăng Khoa.
Khi thấy số tiền đó không đủ, cô còn cùng ông thuyết phục Cụ Cố và gia đình mình. Hai gia đình cuối cùng đều đồng ý giúp đỡ vì Quách Đăng Khoa thực sự là một thanh niên có triển vọng. Cuối cùng ông nhận được số vốn khởi nghiệp đầu tiên từ gia đình Quách và gia đình nhà vợ rồi bắt đầu cùng Tề Tư Viễn lao vào thực nghiệp.
Tuy nhiên, hai thanh niên không có chút kinh nghiệm kinh doanh, nếu nói theo cách hiện tại, chỉ là những kẻ biết nói lý thuyết mà không biết làm thực tế. Rất nhanh, cả hai phải trả giá cho sự kiêu ngạo của mình. Họ không chỉ mất sạch số vốn ban đầu mà còn nợ một khoản lớn.
Cụ Cố và ông Triệu cuối cùng phải ra mặt để giải quyết hậu quả cho Quách Đăng Khoa. Giang Sơn đời nào cũng có người tải xuất hiện, trên thương trường đã không còn chỗ cho Cụ Cố và ông Triệu. Việc dựa vào danh tiếng để giải quyết vấn đề là không thể. Hai gia đình phải bỏ ra không ít tiền bạc mới có thể giải quyết hết hậu quả mà Quách Đăng Khoa gây ra. Nhà họ Tề dù cũng khá giả nhưng không có nền tảng vững chắc như hai nhà Quách và Triệu. Hơn nữa, ông cù nhà họ Tề không đủ thận trọng trong việc đầu tư cho giới trẻ khởi nghiệp. Kết quả là sau lần thất bại này, nhà họ Tề bị kéo tụt dốc không phanh.
Trên chiến trường không có tướng quân bất bại, cũng như trên thương trường không có vụ làm ăn nào chắc chắn thành công. Cụ Cố sau một đời kinh nghiệm thăng trầm đã nhìn nhận mọi việc thấu đáo. Ngay khi nghe Quách Đăng Khoa trình bày kế hoạch kinh doanh đẩy khí thế, cụ đã biết trước rằng thương vụ đầu tiên của ông sẽ kết thúc trong thất bại thảm hại. Cụ hiểu rằng dù có khuyên bảo thế nào, Quách Đăng Khoa cũng không thể cảm nhận hết sự khắc nghiệt của đời sống kinh doanh nếu chưa tự mình trải nghiệm. Vì vậy, cụ quyết định cho ông một bài học.
Cụ Cố thậm chí còn lo rằng nếu Quách Đăng Khoa thành công quá sớm, ông sẽ trở nên ngạo mạn và tự phụ, khó tránh khỏi một cú ngã đau đớn hơn sau này. Người cha hiểu con mình hơn ai hết. Cụ biết rằng Quách Đăng Khoa nếu không trải qua thất bại thì sẽ không trưởng thành. Sau lần thất bại này, Quách Đăng Khoa trở về nhà với tâm trạng chán nản, nhưng Cụ Cố đã nhân cơ hội đó để dạy bảo ông. Hai cha con nói chuyện bình tĩnh, phân tích những nguyên nhân dẫn đến thất bại mà không hề trách móc. Cùng lúc đó, vợ của Quách Đăng Khoa, tiểu thư họ Triệu dù từng bị ông bỏ lại ngay đêm tân hôn để chạy theo hoài bão, vẫn không hề oán trách chồng.
Trong thời gian Quách Đăng Khoa vắng nhà, cô chăm sóc cha mẹ chồng tận tâm và khi ông trở về sau thất bại, cô lại khích lệ, động viên ông. Cô giành rụm hồi môn để hỗ trợ ông khởi nghiệp và khi biết điều đó là không đủ, cô còn thuyết phục cha mẹ ruột hỗ trợ thêm. Những hành động đó khiến Quách Đăng Khoa vô cùng xúc động. Đặc biệt khi ông phát hiện cô đã cẩn thận lưu giữ từng bài viết của mình được đăng báo, thậm chí còn ghi chú tỉ mỉ, ông cảm thấy vô cùng hối lỗi. Ông nhận ra rằng sự bật mãn của mình với việc cô bị bó chân theo phong tục cũ không phải là lỗi của cô mà là lỗi của thời đại.
Còn việc cô không được tiếp xúc với tư tưởng mới cũng không phải lỗi của cô mà là hệ quả của sự giáo dục gia đình. Trong khi đó, hành động bỏ rơi cô ngay đêm tân hôn của ông lại là điều đáng trách hơn cả. Vượt qua những khúc mắc trong lòng, Quách Đăng Khoa bắt đầu trò chuyện với vợ nhiều hơn. Dù không hoàn toàn hiểu hết những câu chuyện về thế giới bên ngoài và sự thay đổi của thời cuộc, cô vẫn hết lòng lắng nghe và khích lệ ông. Quách Đăng Khoa dần dần có thiện cảm với người vợ mà trước đây mình từng khinh thường. Hai người trẻ tuổi, máu nóng, sống chung dưới một mái nhà, ánh mắt trao nhau, tình cảm dần nảy sinh trong những khoảnh khắc vô tình.
Lúc ấy cả hai đang ở tuổi đôi mươi, tràn đầy sức sống. Nhưng khi đến thời điểm quyết định, Quách Đăng Khoa lại bất ngờ gặp vấn đề khiến anh rơi vào tình huống bối rối và khó xử. Dù vợ anh Triệu Thị nhẹ nhàng an ủi, trong lòng cô vẫn thoáng nghĩ rằng có lẽ chồng mình đã gặp tổn thương gì đó khi ra ngoài. Nhưng điều này thực sự oan uổng cho Quách Đang Khoa. Anh không phải là người ham chơi bởi phóng túng và không hề bị tổn hại về sức khỏe. Ở tuổi trẻ, anh vẫn thường có những giấc mơ tình cảm. Và mỗi khi gặp phụ nữ đẹp, anh không tránh khỏi cảm giác sao xuyến.
Nhưng giờ đây, vì lý do gì mà anh lại gặp phải vấn đề này? Suốt mấy ngày liền, hai vợ chồng thử lại, nhưng kết quả vẫn không thay đổi khiến Quách Đăng Khoa vô cùng chán nản. Sự tự tôn của một người đàn ông trong anh gần như bị đập tan. Anh bắt đầu nghĩ mình có thể là người không đủ khả năng và việc giữ Triệu thì bên mình sẽ làm hại cả đời cô. Trong cơn suy sụp, Quách Đăng Khoa viết một tờ giấy ly hôn, muốn để vợ tự do đi tìm hạnh phúc mới.
Cụ Cố và bà Mao Tượng Vân thấy sau khi Quách Đăng Khoa về nhà, mối quan hệ giữa anh và Triệu Thị ngày càng tốt đẹp. Họ đều mong sớm được bồng cháu kéo dài hương khói cho gia tộc. Nhưng thấy sự bất thường của hai vợ chồng sau vài ngày, Cụ Cố ban đầu nghĩ rằng đó chỉ là do cả hai mại miết yêu thương quá đả dẫn đến kiệt sức. Đến một ngày, cụ thấy Triệu thị vừa khóc vừa mang gói đồ chạy ra khỏi phòng, còn Quách Đăng Khoa ngồi bần thần bên trong, vẻ mặt không còn sinh khí.
Cụ Cố lập tức sai bả Mao Tường Vân đi tìm Triệu thị trở về, còn cụ vào hỏi Quách Đăng Khoa chuyện gì đã xảy ra. Khi bước vào, cụ thấy Quách Đăng Khoa đang cầm tờ giấy ly hôn. Triệu thị không muốn ly hôn, nhưng Quách Đăng Khoa nhất quyết muốn giải thoát cho cô, vì vậy Triệu thị vừa xấu hổ vừa tức giận chạy về nhà mẹ đẻ.
Cụ Cố nhìn tờ giấy ly hôn mà ngỡ ngàng. Hai vợ chồng vừa mới hòa thuận, sao lại có chuyện này? Biết con trai không phải người bồng bột, cụ gặng hỏi Quách Đăng Khoa đã xảy ra chuyện gì, nhưng vì quá xấu hổ, Quách Đăng Khoa không nói ra, chỉ đẩy cụ ra khỏi phòng. Không chỉ Cụ Cố, Bả Mao Tưởng Vân cũng thắc mắc khi nghe Triệu thị khóc lóc nhưng không thể nói rõ lý do. Thái độ kỳ lạ của hai vợ chồng khiến cả gia đình không hiểu chuyện gì đang diễn ra.
Sau khi trấn an Triệu Thị, Cụ Cố quyết định uống rượu cùng Quách Đăng Khoa để hỏi rõ sự tình. Trong cơn say, Quách Đăng Khoa bật khóc và thú nhận vấn đề của mình với Cụ Cố. Nghe xong, cụ vừa sốc vừa lo lắng, lập tức nghĩ rằng con trai có thể đã làm gì tổn hại sức khỏe khi ra ngoài, nhưng sau khi hỏi kỹ thì không phải.
Khi câu chuyện được bộc bạch, hai cha con đều là đàn ông, cuối cùng có thể thẳng thắn nói chuyện với nhau. Cụ Cố vốn là người từng trải qua nhiều đời vợ, liền cẩn thận hỏi Hàn Quách Đăng Khoa về chi tiết những chuyện xảy ra và tình hình của anh trước đây. Nhờ chút hơi men, Quách Đăng Khoa không giấu giếm, kể hết mọi chuyện.
Sau khi nghe, Cụ Cố an ủi, "Chuyện này không phải bình thường, làm sao có chuyện con vẫn khỏe mạnh bình thường lại không làm được? Đừng lo, ngày mai ta sẽ đưa con lên Thanh Phong quan tìm đạo trưởng Thanh Thần. Nếu có bệnh, đạo trưởng y thuật cao siêu, nhất định sẽ chữa khỏi.
Khi ấy đạo trưởng Thanh Thần đã ngoài 40, công lực từ tu luyện đạo pháp chính thống ngày một thâm sâu, được mọi người tôn kính như thần tiên sống. Hôm sau, Cụ Cố đưa Quách Đăng Khoa tới Thanh Phong quan. Nhờ mối giao tình lâu năm, Cụ Cố không ngần ngại kể hết sự tình với đạo trưởng thanh thần. Đảo trưởng nghe xong bảo Quách Đăng Khoa đưa tay để bắt mạch, mặc dù xấu hổ, Quách Đăng Khoa cũng làm theo.
Sau khi bắt mạch, đạo trưởng thanh thần nói: "Không có gì đáng ngại cả, để ta xin tổ sư Tam Thanh hai viên thuốc, còn uống một viên ngay bây giờ, viên còn lại uống khi về đến nhà đảm bảo khỏi bệnh." Nghe vậy, cả củ Cố và Quách Đă Khoa đều mừng rỡ. Đạo trưởng lập tức đi bái tổ Tam Thanh, không lâu sau mang về hai viên thuốc nhỏ như đầu ngón tay bọc trong sáp ong, trao cho Quách Đăng Khoa. Anh uống ngay một viên tại chỗ. Đạo trưởng dặn khi về đến nhà nhớ uống thêm viên nữa, chắc chắn sẽ khỏe lại. Quách đang khoa mừng rỡ cảm tạ đạo trưởng và ra về.
Khi Cụ Cố hỏi thêm, "Con trai tôi còn trẻ, sao lại mắc phải chuyện này?" Đạo trưởng cười đáp: "Không có bệnh gì cả, chỉ là tâm bệnh. Người trẻ thường quá vội vã, dẫn đến lo lắng ảnh hưởng tâm lý mà thôi." Nghe vậy, Cố cũng yên tâm cảm tạ đạo trưởng rồi đưa Quách Đăng Khoa về nhà. Trên đường về, Quách Đăng Khoa vẫn tin tưởng tuyệt đối rằng viên thuốc là linh dược của tổ sư Tam Thành, nên khi vừa bước qua cửa nhà, anh liền uống viên thứ hai. Mặc dù không hoàn toàn tin vào thân thánh, anh vẫn đặt niềm tin vào y thuật của đạo trưởng Thanh Thần nên cũng tin rằng thuốc có tác dụng.
Sau khi uống thuốc, Quách Đăng Khoa lập tức kéo Triệu Thị về phòng, cầm tay cô mà trong lòng đầy xúc động, nhớ lại những khoảnh khắc gần gũi trước đây, anh cảm thấy thuốc thật sự hiệu quả, như lấy lại được tinh thần. Triệu Thị vốn đã mê đắm Quách Đăng Khoa, dĩ nhiên không từ chối sự gần gũi của chồng. Dù đang ban ngày, cô vẫn e thẹn nhưng vui vẻ đón nhận. Bầu không khí giữa hai vợ chồng ban đầu rất thuận lợi, nhưng đến khoảnh khắc quyết định, Quách Đăng Khoa lại hoàn toàn không thể làm được gì. Mỗi lần hứng khởi lại kết thúc trong thất vọng, khiến anh tức giận đến mức muốn tác chính mình và thậm chí chỉ muốn tìm chỗ chui xuống.
Không còn cách nào khác, anh đành mặc quần áo và bước ra khỏi phòng, vẻ mặt đầy sự chán nản. Lúc này Cụ Cố cũng đã trở về nhà, là người từng trải, cụ đoán được Quách Đăng Khoa chắc chắn sẽ háo hức thử thuốc ngay sau khi về. Thậm chí cụ đã chuẩn bị tinh thần nhìn thấy con trai mình rạng rỡ, nhưng thay vào đó lại thấy anh ngồi thẫn thờ ở đình nghỉ mắt. Chồng vô cùng bế tắc. Cụ vội vàng bước tới hỏi kết quả thế nào. Quách Đăng Khoa lắc đầu đá, thuốc có tác dụng nhưng kết quả vẫn như cũ.
Cụ Cố ngạc nhiên không thể nào. Đạo trưởng Thanh Thần nói: "Cơ thể con khỏe mạnh, dương khí tràn đầy, không hề có bệnh tật. Thuốc kia cũng chỉ là viên sát trộn cho hương, mục đích chỉ để con tự tin hơn mà thôi. Con chỉ cần hết căng thẳng thì mọi chuyện sẽ ổn." Quách Đăng Khoa nằm bẹp trên ghế than thở, "Con cũng không biết nữa, như có ma ám vậy, có lẽ con thật sự vô dụng rồi." Cố cũng không biết phải nói sao, nhưng chuyện này không thể đem ra hỏi han khắp nơi. Hơn nữa, y thuật của đạo trưởng Thanh Thần đã được công nhận, nếu ông ấy nói không sao thì người khác cũng không giúp gì hơn.
Cụ Cố định đưa Quách Đăng Khoa trở lại Thanh Phong quan, nhưng anh kiên quyết từ chối, nói rằng mình không còn mặt mũi gặp ai nữa. Cụ Cố đành chịu. Lúc này quản gia Ngô gặp Cụ Cố, thấy ông lo lắng bèn hỏi có chuyện gì.
Cụ Cố kể lại, quản gia nghe xong thì nở nụ cười hiểu ý. Thấy vậy, Cu cố trách, ngươi cười gì? Ta bảo ngươi nghĩ cách chứ không phải cười. Quản gia Ngô dù lớn tuổi vẫn rất nhanh trí đáp: "Lão gia, chuyện này một lần lạ, hai lần quen, chỉ cần thiếu gia thử một lần thành công thì những lần sau sẽ dễ dàng hơn. Tôi thấy thiếu gia và thiếu phu nhân đều còn thiếu kinh nghiệm, chi bằng tìm một cô gái làng chơi, họ thường biết cách khơi dậy hứng thú và phá tan căng thẳng của đàn ông, chỉ cần thiếu gia thành công một lần thì mọi chuyện sẽ đâu vào đấy.
Cu Cố nghe xong ngẩn người, sau đó bật cười, đá nhẹ quản gia một cái, mắng, "Ngươi đúng là đồ quỷ. Ta là cha mà đi tìm loại người đó cho con trai à?" Quản gia cười đáp: "Lão gia, ngài có thể coi đó như tìm một cô giáo dạy kỹ năng cho thiếu gia. Chuyện này ngoài các cô gái làng chơi, ai dạy được nữa?"
Cụ Cố cảm thấy lời quản gia cũng có lý, nhưng đây là biện pháp cuối cùng. Ông không muốn Quách Đăng Khoa xa vào những cám dỗ của Thanh Lâu rồi mắc thêm bệnh tật. Sau nhiều suy nghĩ, Cụ quyết định quay lại Thanh Phong quan để hỏi thêm đạo trưởng Thanh Thần.
Sau khi nghe Cụ Cố Trình bày, đạo trưởng Thanh Thần cũng ngạc nhiên lắc đầu nói: "Không thể nào, thân thể cậu ấy hoàn toàn khỏe mạnh, lại đang tuổi trẻ đầy sức sống, sao có thể như vậy được?"
"Ai mà không đồng ý chứ?" Cụ Cố thở dài, "Ông không nhìn thấy bộ dạng của Đăng Qua đâu. Tôi thật sự lo lắng vì thằng bé quá nôn nóng."
"Cụ tiếp tục, chuyện này tuyệt đối không bình thường, có lẽ còn có nguyên nhân khác." Đạo trưởng Thanh Thần trầm ngâm đồng tình. Bỗng cố nhớ lại điều gì đó, lập tức dùng mình, chẳng lẽ là do lúc nhỏ đăng khoa bái nhận cây long đầu cô làm nghĩa phụ. Nghe nói trong giáo phái Lỗ Ban người ta thường gặp phải số mệnh năm điều không đủ, ba điều thiếu. Vì thế việc Bái Long Đầu Côn có thể đã định sẵn rằng Đăng Khoa không thể có hậu duệ và phải sống cô độc cả đời. Cụ bèn hỏi đạo trưởng Thanh Thần về suy đoán này.
Tuy nhiên, Thanh Thần đạo trưởng giờ đã không còn là cậu bé đạo đồng rụt rẻ năm xưa. Lắc đầu dứt khoát, Bái Long Đậu Côn làm nghĩa phụ không đồng nghĩa với việc gia nhập giáo phái. Hơn nữa, cậu Đăng Khoa cũng chưa từng học các pháp môn của Lỗ Ban. Lời nguyền của Lỗ Ban chỉ ảnh hưởng đến người thực sự học pháp môn và đọc qua Lỗ Ban Kinh. Nếu chưa đọc qua kinh thư ấy thì làm sao có lời nguyên nào được. Rồi ông tiếp lời, hơn nữa Long Đầu Côn và Mao sư phụ là những người thân cận, sao họ lại muốn hại Đăng Khoa chứ?
Cụ Cố vẫn lo lắng phản bác, giáo phái Lỗ Ban Tà dị như thế nào, ông cũng rõ mà. Chuyện Bái Long đầu côn làm nghĩa phụ, ai biết được hậu quả ra sao, có lẽ chính họ cũng không lường trước được. Nhìn Cụ Cố hoang mang như vậy, Thanh Thần đạo trưởng cũng không biết nói gì để trấn an, chỉ nhẹ nhàng bảo, "Đi thôi, chúng ta về nhà kiểm tra xem còn nguyên nhân nào khác không. Nếu thực sự là do Long Đầu Côn, chúng ta có thể tìm cao nhân trong giáo phái Lỗ Ban để xin phương pháp hóa giải. Đã có lời nguyện thì cũng sẽ có cách giải." Hai người cùng nhau rời Thanh Phong quan, quay về Quách gia.
Khi đến nơi, Thanh Thần đạo trưởng ngắm nhìn toàn bộ bố cục của phủ Quách gia, không khỏi tấm tắc khen ngợi. "Ngày còn trẻ, tôi không nhận ra sự cao tay của Mao sư phụ." Giờ đây nhìn kỹ, có lẽ ông ấy đã dự đoán được sự biến động trong tương lai và những khó khăn đang chờ đợi. Nghe vậy, Cụ Cố tò mò hỏi: "Ý ông là sao?" Thanh Thần giải thích, "Lần cuối cùng mau sư phụ cải tạo phủ Quách, ông ấy đã bố trí phong thủy để tạo ra một thế cục gọi là đại phong thủy bao tiểu phong thủy, một vòng xoáy liên hoàn. Thế cục này chọn con đường trung dung, không cầu tiến mà cầu bình yên trong loạn thế.
Thoạt nhìn đó là sự an phận, nhưng thực tế lại có thể tiến lùi tùy thời. Là một thế cục phong thủy xuất sắc, tương ứng với thời cuộc. Mao sư phụ đã giành chọn tâm huyết và tài năng của mình để thiết kế Dương Trạch cho phủ Quách. Nghe những lời này, Cu Cố bỗng thấy cay cay nơi khóe mắt. Nghĩ đến việc Mao sư phụ đã qua đời từ lâu, Hải Cốt chẳng biết giờ ở nơi đâu, Cu Cố không khỏi cảm thấy đau xót và rơi lệ. Sau đó, cả hai cùng đi khắp phủ Quách nhưng không phát hiện điều gì bất thường. Cuối cùng, dưới sự dẫn dắt của Cụ Cố, họ tiến vào tân phòng của Quách Đăng Khoa.
Vào phòng, đạo trưởng Thanh Thần bảo Cụ Cố chuẩn bị hương và lư hương. Khi mọi thứ sẵn sàng, Thanh Thần đạo trưởng đặt ba nén hương trong lư và châm lửa. Đây là phương pháp quan hương tình thần một cách giao tiếp với thần linh thông qua khói hương. Thần linh không trực tiếp trò chuyện với con người, nhưng có thể gửi thông điệp qua khói hương. Phương pháp này rất tinh tế và phức tạp, đòi hỏi sự hiểu biết sâu sắc. Thanh Thần đạo trưởng quan sát màu sắc và hình dạng của khói hương, bắt đầu tìm hiểu xem liệu có bất kỳ điều bất thường nào trong tân phòng. Khói hương bắt đầu bốc lên, tàn hương rơi xuống, hình dáng ngọn lửa và hướng khói đều có ý nghĩa riêng.
Trong cách xem hương có các loại hương như hương bình an, hương lộc, hương nhỏ thiên chân, hương đại thiên chân, hoa sen lớn, hoa sen nhỏ, hương gia tăng phúc, hương bệnh tật, mỗi loại đều mang một dấu hiệu khác nhau. Phương pháp quan hương, quan sát hương phổ biến nhất được sử dụng là của Nam Mao và Bắc Mã, tức pháp của Mao Sơn và các pháp sư xuất mã của Đông Bắc. Mao Sơn thuộc Chính Tông Đạo Môn, thỉnh ba vị tổ sư Tam Thanh, trong khi xuất mã tiên chủ yếu mời các thần tiên tạp. Sự khác biệt lớn nhất giữa hai trường phái là xuất mã mang tính bị động, do thần tiên lựa chọn người để mượn thân xác.
Trong khi Hạ Mao mang tính chủ động là người mở thần nhưng không nhập thân. Tuy nhìn qua có vẻ tương đồng nhưng bản chất giữa Xuất Mã và Mao Sơn Chính Tông hoàn toàn khác biệt. Những chi tiết về các phương pháp này nếu nói rõ thì phải tốn vài ngày mới có thể giải thích hết. Vì vậy tại đây chỉ nêu tóm lược Cụ Cố cùng Tiểu Đạo Đồng đứng trước lư hương quan sát quá trình cháy của ba nén hương.
Sau khi khói tan và tàn hương rơi xuống, Tiểu Đạo Đồng tiến lại gần, chăm chú xem xét và gật đầu như đã hiểu thấu mọi chuyện. Anh ta nói vấn đề nằm ở chiếc giường của cậu Đăng Khoa và cô dâu. Nghe vậy, củ cố sửng sốt. Chiếc giường tiểu đạo đồng tiếp tục, hương cháy không có khói đen, ngọn lửa sáng rực thẳng lên trời. Điều này cho thấy vận khí đang tịnh, mọi sự suôn sẻ, nhưng nếu lửa chập trờn hoặc bốc khói đen, đó là dấu hiệu có tà khí quấy phá. tản Hương rơi về hướng đầu giường cho thấy có ai đó trên giường đã từng mang lòng oán hận đối với gia đình này.
Đạo trưởng Thanh Thần phân tích thêm, "Chiếc giường của Đăng Khoa được đóng riêng trước khi cưới, do đệ tử đầu của bố vợ tôi là Hắc Ngưu chế tạo. Không chỉ chiếc giường mà toàn bộ nội thất trong phòng đều do Hắc Ngưu thực hiện, vậy làm sao lại có vấn đề được?"
Cụ Cố cau mày, trầm tư, Hắc Ngưu là người thừa kế nghề mộc của Mao sư phụ. Mặc dù ông ấy không được truyền thụ pháp môn của Lỗ Ban, nhưng các công việc thường ngày vẫn do ông đảm nhận. Những đệ tử khác của Mao sư phụ không còn thầy nên cũng theo Hắc Ngưu đi làm. Nhìn từ ngoài, Hắc Ngưu coi như kế thừa công việc của sư phụ mình. Với mối quan hệ như vậy, Mao Tường Vân coi Hắc Ngưu và các đệ tử khác như người nhà. Nếu Hắc Ngưu thực sự đã sử dụng pháp thuật để nguyền rủa thì đó chắc chắn là thuật yểm pháp của Nghề Mộc. Nhưng Hắc Ngưu không phải là người trong giáo phái Lỗ Ban.
Làm sao ông ta biết được thuật này? Và dù có biết thì ông ta cũng không có lý do gì để hại gia đình chúng ta. Đảo trưởng Thanh Thần, người từng nhiều lần đến nhà Mao sư phụ, tự mình quen biết Hắc Ngưu cũng ngập ngừng. Theo lý mà nói, Hắc Ngưu không thể nào hại gia đình Quách. Nhưng khói hương và tàn hương lại chỉ rõ điều đó. Rốt cuộc sự thật là gì đây? Chỉ cần tháo chiếc giường này ra xem xét sẽ biết rõ ngay. Tiểu đạo Đồng nói.
Cụ Cố gật đầu, ra lệnh cho quản gia Ngô mang theo vài người hầu tháo chiếc giường của Đăng Khoa. Những chiếc giường của các gia đình giàu có thời xưa được chế tác rất cầu kỳ với cấu trúc phức tạp và điêu khắc tinh xảo. Giường nặng và chắc chắn, không giống như những chiếc giường đơn giản thời nay.
Sau khi tháo rời chiếc giường, họ phát hiện dưới tấm ván giường có một đôi tượng gỗ nhỏ, một nam một nữ. Cả hai tượng đều trần chuồng, được khắc tỉ mỉ đến mức sống động như người thật. Từ khuôn mặt, ngũ quan cho đến các bộ phận trên cơ thể đều đầy đủ.
Cụ Cố đỏ mặt khi nhìn thấy cảnh tượng này, nhưng nhanh chóng nhận ra đây chính là một loại hiểm pháp của môn phái Lỗ Ban. Mao sư phụ từng nói rằng các pháp thuật của Lỗ Ban chủ yếu sử dụng gỗ để làm phép. Dù vậy, Cụ Cố vẫn không tin rằng Hắc Ngưu người thợ mộc thân cận lại làm ra chuyện này. Cụ bèn hỏi đạo trưởng Thanh Thần, "Hai tượng người ôm nhau như thế này có ý nghĩa gì?" Đạo trưởng tuy là người xuất gia, cũng đỏ mặt khi nhìn thấy đôi tượng này trong tư thế ân ái. Ông nhận lấy cặp tượng từ tay quản gia Ngô, dùng chút lực tách đôi tượng ra.
Sau khi tách ra, ông cầm tượng nam đưa cho Cụ Cố và nói: "Ngài nhìn kỹ xem. Ý nghĩa của nó là gì? Cụ Cố cúi xuống nhìn kỹ tượng gỗ và ngay lập tức nổi giận, "Thật là đáng hộ hẹn, đúng là biết mặt không biết lòng. Ta luôn đối xử tốt với Hắc Ngưu, vậy mà hắn dám làm chuyện bì ổi như thế này." Mọi người trong phòng cũng dồn ánh mắt vào tượng gỗ nam. Tượng nam cũng được khắc đầy đủ, nhưng phần thân dưới lại vô cùng kỳ lạ. Nó không có bộ phận sinh dục, giống như hình tượng một thái giám. Đặt đôi tượng này dưới giường tân hôn của Đăng Khoa và vợ, ý đồ rõ ràng là để nguyền rủa cậu trở thành một người bất lực.
Liên kết sự việc này với những vấn đề của Đăng Khoa, Cu Cố lập tức hiểu rằng đây là kết quả của một pháp mà Hắc Ngưu đã thực hiện. Đảo trưởng Thanh Thần hỏi: "Có khi nào ngài đã làm điều gì khiến Hắc Ngưu oán giận không?"
Cụ Cố lắc đầu, "Tuyệt đối không. Ta luôn đối đãi tốt với hắn. Để chắc chắn, cụ hỏi lại quản gia Ngô, khi cho Hắc Ngưu làm đồ nội thất, ta đã bảo ngươi trả tiền đầy đủ cho hắn, ngươi không làm điều gì say cháy chứ?" Quản Giang Ngô Đáp: "Làm sao có chuyện đó được? Hắc Ngưu là bà con bên nhà phu nhân, lại là người thân cận của Mao sư phụ, không những tôi không khấu trừ tiền mà còn trả thêm cho hắn. Nói xong, quản gia ngô lập tức ra lệnh cho người hầu mang đồ nghề. Đi theo ta đến Khai Phong tìm Hắc Ngưu, ta muốn xem hắn dắt tâm điều gì.
Lúc này Đăng Khoa cũng bước vào phòng, thấy mọi người đều giận dữ liền hỏi chuyện gì đã xảy ra, Cụ Cố đưa tượng gỗ cho cậu và nói: "Đây chính là căn nguyên bệnh tình của con. Hắc Ngưu, cậu của con đã sử dụng hiểm pháp để nguyền rủa con thành một thái giám."
Khi nhìn thấy hình dáng của cặp tượng gỗ, Đăng Khoa lập tức hiểu chuyện gì đã xảy ra. Từ nhỏ cậu đã được tiếp xúc với những câu chuyện về các thuật pháp của Lỗ Ban nên dù không hoàn toàn tin vào những thứ này cậu cũng hiểu rõ ý đồ của chúng.
Tuy nhiên do được giáo dục bởi tư tưởng mới, Đăng Khoa luôn xem những điều này như mê tín dị đoan. Cậu thậm chí còn từng viết bài trên báo chỉ trích các đạo môn, cho rằng đó là những tản dư phong kiến đầu độc nhân dân. Điều này không khó hiểu vì ở thời kỳ đó, những người trẻ tuổi chịu ảnh hưởng của tư tưởng mới thường công kích kịch liệt mọi thứ cũ kỹ để thể hiện bản thân tiến bộ và lý trí. Nhưng bây giờ khi nhìn vào cặp tượng và nghĩ đến căn bệnh kỳ quặc của mình, Đăng Khoa không thể không tin rằng có những điều khoa học không thể giải thích được.
Cậu tức giận hỏi: "Tại sao cậu Hắc Ngưu lại hại con?" Quản Giang Ngô đáp: "Chúng tôi cũng không hiểu nổi nên mới gọi hắn là kẻ vô ơn bạc nghĩa. Tôi chuẩn bị dẫn người đến Khai Phong bắt hắn về hỏi tội." Nói rồi, ông định rời đi.
Cụ Cố vội vàng ngăn lại. "Ông định làm gì? Nếu quả thực chuyện này là do Hắc Ngưu làm, ông sẽ xử lý hắn thế nào?"
"Quản gia Ngô nói: "Loại người này đáng bị đánh chết." Cụ Cố trầm giọng, "Lời nói thì dễ, nhưng Hắc Ngưu luôn được phu nhân coi như anh em ruột. Nếu ông đánh chết hắn, phu nhân sẽ nghĩ sao? Hơn nữa, hắn là đại đệ tử của Mao sư phụ, là anh cả của đám đồ đệ. Chúng ta xử lý hắn như vậy, chong phải sẽ làm mất hết thể diện của Mao sư phụ hay sao?" Nghe vậy, quản gia Ngô toát mồ hôi lạnh và vội vàng nói: "Lão gia, tôi đã suy nghĩ không thấu đáo, xin lỗi." Đảo trưởng Thanh Thần cũng lên tiếng: "Lão gia thật sáng suốt khi vẫn giữ được bình tĩnh trong chuyện này.
Quả thật đây không phải chuyện dễ xử lý. Thêm nữa, hiểm pháp của Lỗ Ban không chỉ cần tìm ra cặp tượng là có thể hóa giải. Chúng ta cần người của Lỗ Ban Môn kiềm chứng và giải trừ. Mối quan hệ của gia đình ngài với Lỗ Ban Giáo rất sâu sắc. Chuyện này cần được xử lý cẩn thận, không thể vội vàng.
Cụ Cố gật đầu đồng ý. Thanh Thần đạo trưởng tuy có đủ pháp lực để phá giảiểm pháp, nhưng ông không muốn ra tay vì e ngại mối quan hệ với Hắc Ngưu và những người khác trong môn phái.
Cụ Cố cảm tạ đạo trưởng, cúi người hành lễ, cảm ơn đạo trưởng đã chỉ dẫn, tôi biết mình nên làm gì. Sau đó mọi người dần bình tĩnh lại, thanh thần đạo trưởng rời về Thanh Phong quan.
Cụ Cố suy nghĩ một hồi, dặn dò người hậu không được tiết lộ chuyện này. Sau đó ông mang cặp tượng gỗ về phòng và tìm gặp Mao Tường Vân. Khi thấy cặp tượng, Mao Tường Vân bật cười trách Cụ Cố, "Lão gia đúng là già mà không đứng đắn."
Cụ Cố không tức giận mà bình tĩnh kể lại toàn bộ sự việc. Xong xuôi, ông hỏi: "Phu nhân, Hắc Ngưu là người nhà của chúng ta, nhưng tại sao hắn lại dùng cách hèn hạ này để hại chúng ta?" Câu hỏi này thực ra là để giữ thể diện cho Mao Tường Vân, ngầm ám chỉ rằng Hắc Ngưu là người nhà bên ngoại của bà. Mao Tường Vân nghe xong, mặt biến sắc, hoảng hốt nói: "Làm sao có thể là hắn? Nhưng nếu thực sự là hắn, liệu có phải vì lý do nào đó?
Cụ Cố hỏi ý bà là gì? Mau Tưởng Vân đáp: "Trước khi gặp ông, các đồ đệ của cha tôi đều nghĩ rằng ông không có con trai nên chắc chắn sẽ phải kén dề để thừa kế." Mau Tưởng Vân tiếp tục nói: "Lúc đó Hắc Ngưu là đại đệ tử của cha tôi vật thường xuyên ở trong nhà. Những sư huynh đệ đều nghĩ rằng cha tôi sẽ gả tôi cho Hắc Ngưu để làm rể trong nhà. Thậm chí Hắc Ngưu cũng có chút tình cảm với tôi, nhưng tôi chỉ xem anh ấy như một người anh. Sau này khi tôi và ông thành thân, chuyện này coi như đã chấm dứt. Có lẽ vì lý do này.
Nói đến đây, Mao Tường Vân đỏ mặt. Mặc dù giữa tôi và Hắc Ngưu chưa từng có chuyện gì, nhưng nhắc đến việc này cũng khiến tôi cảm thấy xấu hổ. Nếu đúng là anh ấy ôm mối hận vì tôi lấy mất người anh ấy yêu nên nhớ đến mà hại con trai chúng ta thì cũng không phải là không thể.
Cụ Cố gật đầu. Vậy nếu thật sự là Hắc Ngưu làm, bà muốn xử lý anh ta như thế nào? Mao Tưởng Vân thở dài, "Thật khó xử, dù sao những năm qua chúng ta đều coi anh ấy là người nhà, nhưng ông yên tâm, nếu anh ấy bất nhân thì tôi cũng không thể bất nghĩa. Tôi sẽ không để ông khó xử, cũng không để cha tôi dưới suối vàng phe phiền lòng." Chương 203: Anh đã hủy hoại tôi.
Cụ Cố là người đã trải qua cả một đời sóng gió, nhờ đó mà tính tình ông trở nên khoan dung và điềm đạm hơn, luôn cân nhắc đến cảm nhận của gia đình khi xử lý sự việc. Nếu là tính cách nóng này trước kia, ông chắc hẳn đã ra lệnh cho quản gia Ngô dẫn người đi tìm và đánh chết Hắc Ngưu để giải tỏa cơn giận trong lòng.
Khi đó cảm giác của phu nhân hay tính tình Hắc Ngưu cũng chẳng khiến ông bận tâm. Dù xét về lý lẽ, Hắc Ngưu quả thực có lỗi trước. Tuy nhiên, giữa lý lẽ và tình cảm đôi khi không phải lúc nào cũng đồng nhất. Câu nói tình là tình, lý là lý cũng là để phân biệt rõ hai điều này.
Sau khi bàn bạc cùng Mao Tưởng Vân, hôm sau, Cụ Cố sai quản gia Ngô đến Khai Phong mời Hắc Ngưu về. Ông dặn dò quản gia tuyệt đối không để lộ cảm xúc, phải mời mọc lịch sự, cứ nói rằng nhà họ Quách muốn xây một khu nhà mới, đặc biệt mời anh ta đến để bàn bạc chuyện khởi công. Quản gia Ngô là người khéo léo, dễ dàng che giấu cảm xúc. Ông đến Khai Phong tìm gặp Hắc Ngưu, giải thích lý do và Hắc Ngưu không nghi ngờ gì, chỉ thu xếp đơn giản rồi theo ông trở về. Về đến nhà, Cu Cố lập tức tổ chức một bữa tiệc rượu để đón tiếp Hắc Ngưu.
Trong bữa tiệc ông không nhắc đến chuyện xây dựng hay bất cứ điều gì khác, chỉ cùng Hắc Ngưu uống rượu và ăn uống vui vẻ. Sau khi rượu no cơm đầy, Cụ Cố bắt đầu nhắc lại những kỷ niệm về Mao sư phụ khi còn sống.
Mao sư phụ luôn giữ một vị trí quan trọng trong lòng Cụ Cố. Điều này không cần bàn cãi. Với Hắc Ngưu, Mao sư phụ cũng là người thầy ân nghĩa. Trong xã hội cũ, nghề mộc không chỉ là một công việc lao động chân tay mà còn là một kỹ năng sống còn. Người ta thường nói nhất nghệ tinh, nhất thân vinh chính là như vậy.
Cụ Cố kể lại khi còn trẻ, để được nhận làm đồ đệ của một thầy Mộc nổi tiếng, ông phải nhờ người thuyết phục, sau đó còn phải sống như một người hầu trong ba năm. Nhưng nhờ học được nghề, cụ đã sống sót qua nạn đói lớn và xây dựng nên sự nghiệp lẫy lừng sau này. Cả hai hồi tưởng về Mao sư phụ, đôi mắt đỏ hoe vì xúc động. Cuối cùng Cụ Cố nâng chén rượu nói với Hắc Ngưu, "Tôi là nửa đệ tử, nửa con của Mao sư phụ. Anh là đại đệ tử của ông ấy.
Mao sư phụ đã qua đời, nhưng anh em chúng ta phải luôn giúp đỡ lẫn nhau. Tôi và Mao Tường Vân luôn coi anh là người nhà, không hề có ý gì khác." Hắc Ngưu xúc động. Nhờ ơn nghĩa của ông và phu nhân, những năm qua anh em chúng tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ. Chúng tôi có thể không nói ra nhưng trong lòng luôn ghi nhớ. Cố nhấp nhát chén rượu, ánh mắt chăm chú nhìn Hắc Ngưu. Ông nhẹ nhàng đặt chén xuống, sau đó chức ngón tay giữa, nhỏ ba giọt máu và chén rượu. Mặc dù không theo đạo giáo, Cụ Cố từng được Mao sư phụ truyền dạy về cách hóa giải những tà thuật, trừ những pháp ác độc như lời nguyền mệnh diệt cực kỳ hiếm gặp.
Những trò bịt bợm của thợ mộc thường có thể được hóa giải bằng cách mở họ uống một chén rượu cắt máu sau khi công việc hoàn thành. Khi thợ mộc uống chén rượu này, bất cứ phép thuật nào họ dở ra để hại chủ nhà đều sẽ phản lại chính bản thân họ. Đây là lý do dân gian thường mở thợ mộc, thợ xây ở lại ăn một bữa cơm khi công việc kết thúc. Thứ nhất để cảm tạ công sức của họ. Thứ hai, để hóa giải bất kỳ quán hận nào. Nếu có, nếu thợ mộc không tham dự bữa tiệc hoặc từ chối uống rượu, chủ nhà thường phải mời pháp sư khác để kiểm tra nhà và phá giải bất kỳ phép thuật nào.
Cụ Cố nhìn Hắc Ngưu nâng chén rượu máu, cười nói: "Chén rượu này như một lời thể huyết minh, từ nay chúng ta là anh em sống chết có nhau, tôi kính anh một chén." Nghe vậy, sắc mặt Hắc Ngưu lập tức thay đổi. Khuôn mặt đen bóng của anh ta vốn là lý do có biệt danh Hắc Ngưu giờ đây trắng bệch, xen lẫn những mạng xanh tái, mồ hôi lạnh nhỏ giọt từ tráng xuống, bàn tay để trên bàn run lợi bảy như đang sàng gạo.
Cụ Cố quan sát kỹ phản ứng của Hắc Ngưu, lòng đã đoán chắc tám chín phần. Ông mỉm cười, lại đưa chén rượu về phía Hắc Ngưu nói: "Chẳng lẽ Hắc Ngưu huynh xem thường thái lai này sao?" Hắc Ngưu vội lắc đầu đáp: "Không dám, không dám."
Cụ Cố cười nhấn mạnh, "Vậy chén rượu mà Thái Lai đã nâng, chẳng lẽ lại để đặt xuống sao?" Hắc Ngưu cắn răng, tựa hồ đã quyết định điều gì đó. Anh ta đưa tay ra để nhận chén rượu, nhưng ngay lúc ấy, Cụ Cố bất ngờ rút chén về, ngửa đầu uống cạn.
Sau khi uống xong, Cười nhìn Hắc Ngưu, "Đã là anh em, sao Thái Lai nỡ lòng nào hại huynh được chứ?" "Đúng không, Hắc Ngưu?" huynh nghe vậy, Hắc Ngưu như một quả bóng bị xỉ hơi, cả người co rúm lại vì sợ hãi. Cuối cùng anh ta run rẩy cầm lấy chén rượu của mình, uống cạn trong một hơi. Hắc Ngưu với giọng run rẩy, gần như không nghe rõ, nói: "Ông đã biết hết rồi sao?"
Cụ Cố mỉm cười đáp: "Thái lai chỉ biết một mà không biết hai. Nếu anh vẫn còn nhớ ơn Mao sư phụ và kính trọng mao Tường Vân, sư muội của anh thì hãy tự tháo gỡ những gì mình đã làm. Sau đó, chúng ta vẫn là huynh đệ. Nếu Thái Lai có lỗi gì với anh, tôi mong anh rộng lượng bỏ qua, không cần tính toán chi ly. Nếu trong lòng anh còn tức giận, hôm nay cứ mắng tôi vài câu, xem như mọi chuyện xong xuôi. Hắc Ngưu nhìn Cụ Cố, Cụ Cố cũng nhìn lại anh ta. Qua một lúc lâu, Hắc Ngưu bất ngờ òa khóc, tiếng khóc vang lớn, vừa khóc vừa thở dốc, chỉ tay vào Cụ Cố mà hét: "Nếu không có ông, sư phụ đã chọn tôi làm con rể, mau Tưởng Vân đã là vợ tôi.
Lúc sư phụ dạy yếu, chính tôi sẽ chăm sóc ông ấy. Cái cánh cửa nhỏ ông ấy khóa trì để tôi đi qua, bởi sư phụ muốn tôi thừa kế vị trí trưởng môn Đức Tín Đường, truyền lại pháp môn của tổ sư ra, nhưng chính ông đã gọi những người ngoài đến khiến sư phụ thay đổi ý định, nghĩ rằng những năm qua ông bố thí cho tôi chút ân huệ, tôi sẽ cảm kích sao? Ông là một kẻ giả nhân giả nghĩa, ông đã hủy hoại tôi." Hắc Ngưu nói một hơi dài, phun ra hết nỗi uất ức trong lòng nhiều năm qua đến mức thở hổn hển.
Cụ Cố lặng người, không ngờ Hắc Ngưu lại căm hận mình đến mức này. Người càng ít nói, lòng càng chất chứa nhiều oán hận. Cụ Cố Bình tĩnh đáp: "Mối duyên giữa tôi và Mao Tường Vân là ý trời, không thể đổ lỗi cho tôi. Hơn nữa, anh đã có vợ con, sao còn chấp nhất những chuyện cũ? Đó không phải là việc một bậc nam nhi nên làm." Hắc Ngưu lớn tiếng, "Tất cả là vì ông có tiền có thế."
Cụ Cố nhẹ cười, "Nếu anh nghĩ như vậy, chứng tỏ anh không hiểu Tường Vân, bảo sao cô ấy chọn tôi chứ không chọn anh." Hắc Ngưu định cãi lại, nhưng Cụ Cố giơ tay ngăn lại. Về việc mau sư phụ không truyền vị trí trưởng môn Đức tín đường cho anh, anh cho rằng tôi can thiệp sao? Thật nực cười, anh quá xem trọng tôi và xem nhẹ sư phụ mình. Mau sư phụ đã quyết, tôi làm sao thay đổi được. Tôi nói cho anh biết, những người cuối cùng mau sư phụ mời đến là chưởng môn Đức Tín Đường hiện tại và giáo chủ đương nhiệm của giáo phái Lỗ Ban. Chuyện Đức Tín Đường truyền cho ai?
Thậm chí vượt ngoài quyền quyết định của Mao sư phụ. Ông ấy không truyền cho anh là vì muốn tốt cho anh. Cụ Cố tiếp lời. Những điều tôi nói hôm nay đều xuất phát từ lòng thành. Dựa vào tình xưa nghĩa cũ, tôi không làm khó anh. Nếu anh tin, chúng ta vẫn là huynh đệ. Nếu không đành đường ai nấy đi. Hậu hội vô kỳ. Hắc Ngưu đứng dậy hét lên. Đừng tưởng ông không gây khó dễ thì tôi biết ơn ông. Loại giả nhân giả nghĩa như ông sớm muộn cũng nhận quả báo. Nhưng chuyện này không liên quan đến đăng khoa. Tìm một con gà trống năm màu đặt nó dưới giường đăng khoa một đêm, sau đó nhổ ba cọng lông gà đốt dưới giường là dạy được phép.
Nói xong, Hắc Ngưu quay người bỏ đi. Cụ Cố nhìn bóng lưng Hắc Ngưu rời đi, hỏi lớn, "Phép chù ếm này, anh học từ đâu?" Hắc Ngưu quay lại cười lạnh, "Các lão thợ mộc giang hồ đấy, dù không nhập giáo ai mà chẳng biết vài ba chiêu để phòng thân." Hắc Ngưu rời đi, Mao Tường Vân bước ra từ sau rèm. Những việc Hắc Ngưu đã làm khiến Mao Tường Vân vô cùng khó chịu, thái độ cuối cùng của anh ta lại càng khiến cô lạnh lòng thất vọng. Cô nói với Cụ Cố, "Xem ra dù có móc tim ra mà trao cũng chẳng sưởi ấm được trái tim kẹ băng giá. Nếu sau này anh ta còn làm điều gì quá đáng thì xử phạt ra sao cũng tùy ông quyết định.
Cụ Cố an ủi mau Tường Vân, lòng người khó đoán. Tường Vân à, em không cần tự trách, ngay cả tôi cũng không ngờ anh ta lại làm ra những chuyện như vậy. Có những điều Cụ Cố không thể nói thẳng với Mao Tưởng Vân. Một phần ông nể mặt bả nên không tiện trừng phạt Hắc Ngưu, nhưng phần lớn là do ông e ngại. Nguyên nhân sự e ngại này vô cùng phức tạp.
Cụ Cố không rõ được quá khứ của Hắc Ngưu. Những chiêu trò mà Hắc Ngưu sử dụng liệu chỉ là vải ba chiêu học lỏm từ các thợ mộc giang hồ hay đằng sau đó còn những điều sâu xa khác. Nếu Hắc Ngưu biết nhiều hơn thế nhưng 108 pháp của Lỗ Ban Giáo thì một chiêu nối tiếp một chiêu ai mà phòng bị kịp. Hơn nữa giờ không còn Mao sư phụ để bảo vệ nếu thực sự làm mất lòng Hắc Ngưu ai biết chuyện gì sẽ xảy ra. Những lần đấu pháp với các môn phái Huyền Môn trước kia đã khiến Cụ Cố Tử Lâu e ngại những thủ đoạn khó lường ấy.
Còn một lý do nữa, nếu pháp thuật của Hắc Ngưu được truyền từ các đường phái khác của Lỗ Ban Giáo thì vấn đề còn nghiêm trọng hơn. Mao sư phụ không nhận Hắc Ngưu làm đệ tử chính thức, nhưng nếu các đường phái khác thu nhận anh ta và truyền cho pháp thuật Lỗ Ban, liệu có ẩn ý gì không? Đừng quên rằng cây gậy rồng và quyền truyền thừa Đức Tín Đường hiện đang nằm trong tay Cụ Cố. Những bảo vật ấy là thứ vô cùng hấp dẫn đối với các môn đồ lỗ bàn giáo.
Cụ Cố tuy không nhập giáo nhưng những gì ông nắm giữ là một củ khoai nóng bọng tay, không dùng được nhưng cũng không dám vứt đi. Đó là những gì Mao sư phụ đã ký khác trước lúc Lâm Trung. Người càng lớn tuổi càng lo nghĩ nhiều. Ai ngờ rằng với trường hợp của Hắc Ngưu Cụ Cố lại phải nghĩ sâu xa đến vậy. Là người đứng đầu gia tộc họ Quách, Cụ Cố buộc phải thận trọng. Cuối cùng Cụ Cố quyết định không để Hắc Ngưu tiếp tục gây hại, chỉ cần không để thợ mộc vào nhà, anh ta sẽ không có cơ hội thi triển bất kỳ phép chù yếm nào.
Mao sư phụ từng nói, những pháp thuật như thế chỉ có thể thực hiện khi người ta không đề phòng, bản chất là thủ đoạn tiểu nhân, không đáng mặt chính nhân. Cụ Cố cũng dặn dò Mau Tường Vân và mọi người không nên tùy tiện đi còi bói toán hay để người khác bấm bát tự, tránh bị lợi dụng hoặc chủ ếm. Về Vân Quách Đăng Khoa, Cụ Cố làm theo cách mà Hắc Ngưu hướng dẫn tìm một con gà trống năm màu để dưới giường Đăng Khoa qua một đêm.
Sáng hôm sau nhổ ba cọng lông đuôi gà đốt sạch dưới gầm giường. Chứng bệnh khó nói của Đăng Khoa sau đó tự nhiên khỏi hẳn. Qua sự việc này, Quách Đăng Khoa, người vốn không tin vào chuyện thần thánh, bỗng thấy những điều này thật huyền bí và khó hiểu.
Cụ Cố nhìn Đăng Khoa đầy nghiêm khắc, quát: "Đừng có làm loạn, cha chỉ có mình con là con trai, vào giáo thì nhất định phải chịu ngũ tổ tam khuyết, năm tồn, ba khuyết, phải chọn một trong ba, hoặc nghèo khổ suốt đời, hoặc đoàn thọ, hoặc cô đơn đến giả. Con muốn chọn cái nào? Ngài lành không sống, lại đi tự làm khổ mình. đăng khoa cãi lại, "Con chỉ học thôi, không dùng để hại ai thì làm sao bị nguyền rủa được."
Cụ Cố Nghiêm giọng, trong kinh Lỗ Ban viết rõ ràng, người đọc kinh này dù dùng hay không đều sẽ tuyệt tử tuyệt tôn. Pháp của Lỗ Bàn được xem là tá thuật đệ nhất thiên cổ, con mau dập tắt suy nghĩ đó đi, nếu sau này dám nhắc lại chuyện này, cha sẽ đánh gãy chân con. Đăng Khoa ngoài miệng khi nhận lời, nhưng trong lòng lại càng thêm tò mò, nhất là khi biết đây là tà thuật đệ nhất thiên cổ, điều này càng làm cậu thêm hứng thú.
Cụ Cố hối hận không thôi. Nếu biết trước tiên này ông đã không kể cho Đăng Khoa nghe nhiều chuyện về giáo phái Lỗ Ban. Ai ngờ được một thanh niên hiện đại thời thượng như Đăng Khoa lại có hứng thú với những điều này. Không người cha nào muốn con mình dẫn thân vào những thứ nguy hiểm như thế.
Cụ Cố vì vậy mà thấp thỏm không yên. Đêm đến Mao Tưởng Vân nhận ra sự khác lạ của Cụ Cố bèn hỏi ông có chuyện gì phiền lòng? Cụ Cố cười gượng. Con trai quý của em muốn học pháp Lỗ Ban. Mau Tưởng Vân nghe xong cũng giật mình nhưng an ủi. Ông cứ giấu kỹ mấy thứ mà cha em để lại đừng để nó tìm thấy là được. Thợ mộc thì nhiều nhưng thợ mộc thực sự nhập giáo để học Pháp Lỗ Ban giờ hiếm lắm, nó cũng chẳng tìm được thầy mà học. Chúng ta cẩn thận một chút, chắc là không sao.
Cụ Cố thở dài. Em còn chưa hiểu cái thằng con trai mệnh Phạm Thái Bạch này đâu. Từ nhỏ tới lớn, nó đã quyết tìm hiểu điều gì thì thể nào cũng nghiên cứu đến cùng. Với lại nhà mình có quan hệ sâu xa với giáo phái Lỗ Ban, anh thật sự lo là khó mà phong được nó.
Cụ Cố hiểu rằng vấn đề này không chỉ nằm ở việc ngăn cản đăng khoa mà còn ở mối liên hệ phức tạp giữa gia đình họ Quách và giáo phái Lố Ban. Ông không ngừng suy nghĩ, nhưng cũng chẳng thể tìm ra cách nào để hoàn toàn giải quyết được nỗi lo này.
Cụ Cố vì giữ lại báu vật trong giáo phái Lố Ban nên luôn lo lắng bị người trong giáo hãm hại nhằm chiếm đoạt bảo vật của mình. Đúng lúc này, Đăng Khoa lại nảy sinh hứng thú với giáo phái Lố Ban khiến cụ càng lo sợ cậu có thể bị người khác lợi dụng. Điều đáng sợ nhất là từ chuyện Đăng Khoa Bái Long Đầu Côn làm cha nuôi, Cụ Cố cảm thấy có một mối nhân quả mơ hồ. Định mệnh buộc Đăng Khoa sẽ có liên hệ với giáo phái Lố Ban. Quan hệ giữa Đăng Khoa và Củ Cố đã dịu đi nhiều sau những xích mic trước đó và cậu cũng trở nên trầm tĩnh hơn.
Tuy nhiên, việc đăng khoa hứng thú với giáo phái Lỗ Ban là điều không thể chấp nhận. Cụ Cố quyết định tìm cách chuyển hướng sự chú ý của cậu. Không phải nó muốn khởi nghiệp, làm ăn buôn bán sao? Cứ để nó ra ngoài dấn thân, mệt mỏi dã rời rồi thì sẽ không còn sức nghĩ đến giáo phái lỗ ba nữa. Cụ nghĩ thầm. Hôm sau, Cụ Cố mời vài quản sự đáng tin cậy đến, đồng thời cấp một khoản tiền lớn cho Đăng Khoa, bảo cậu ra ngoài tiếp tục khởi nghiệp. Trước khi cậu đi, cụ không quên dặn dò kỹ lưỡng. Phải làm ăn vững chắc, nhìn xa trông rộng nhưng cũng phải biết tính toán trước sau. làm ăn cũng giống như làm người, nếu không có tính toán xa, ắt sẽ gặp lo gân.
Khi nhìn đăng khoa nhận khoản tiền khởi nghiệp với vẻ mặt đắc ý, Cụ Cố bỗng nhận ra mình bị cậu con trai này tính kế. Hóa ra lần trước đăng khoa hô hào muốn học pháp Lỗ Ban chỉ là để cụ chủ động đưa tiền cho cậu đi khởi nghiệp lần nữa.
Cụ Cố vừa bực mình vừa buồn cười, nhưng cũng thấy mừng khi Đăng Khoa vừa biết giữ thể diện vừa biết tính toán. Là cha, cụ chỉ mong Đăng Khoa có thể ăn một lần, khôn một lần để làm nên chuyện. Lần này Đăng Khoa khởi nghiệp với sự giúp đỡ ngầm của Cụ Cố. Cụ không chỉ nhờ các quản sự giám sát mà còn mời bạn bè cũ kín đáo hỗ trợ. Nhờ có sự trợ giúp âm thầm này, cộng với bài học từ lần thất bại trước, Đăng Khoa cẩn thận hơn, không vội vàng đi từng bước chắc chắn. Nhờ đó, cậu đạt được thành công ngoài mong đợi. Trong bối cảnh đất nước hỗn loạn nhưng đang trên đà khôi phục, đăng khoa với trí tuệ và tài năng của mình, nhanh chóng tạo dựng được tiếng tăm, trở thành ngôi sao mới trên thương trường.
Tuy nhiên, trong lòng Đăng Khoa luôn áy náy về chuyện lần trước cậu cùng bạn thân Tề Tư Viễn khởi nghiệp thất bại. Vì sự quyết định nóng vội của mình, Tề giá suy sụp hoàn toàn. Còn bản thân Tề Tư Viễn, người từng được mệnh danh là đệ nhất tài tử Trung Nguyên, cũng vì thế mà chán nản, mất hết ý chí. Trong khi Đăng Khoa bận rộn với công việc kinh doanh, cậu vẫn thường tổ chức tụ họp bạn bè cũ. Những buổi họp mặt của nhóm thanh niên thường xoay quanh việc bàn luận chuyện xưa nay, chỉ trò giang sơn, điều mà Đăng Khoa luôn yêu thích. Nhưng lần này trong nhóm tứ đại tài tử Trung Nguyên ngày nào lại thiếu mất một người chính là Tề Tư Viễn.
Đăng qua hỏi thăm hai người bạn còn lại về tình hình của Tề Tư Viễn, chỉ nghe được rằng sau khi thất bại trong việc kinh doanh, gia đình Tề rơi vào cảnh xa sút. Tề Tư Viễn chìm trong sự tự trách sâu sắc, trở về quê nhà Nam Dương để báo hiếu. Ban đầu anh vẫn giữ liên lạc qua thư tử với hai người bạn, nhưng nội dung thư không còn phong thái hào hoa như xưa, thay vào đó là sự chán nản, u sầu. Vài năm gần đây ngay cả thư tử cũng không còn. Nhớ lại những ngày tháng khởi nghiệp dù thất bại, đăng khoa và tề tư viễn từng đồng cam cộng khổ.
Nhưng trách nhiệm chính cho thất bại ấy thuộc về Đăng Khoa. Với tâm niệm chuộc lỗi, Đăng Khoa quyết định tìm đến Tề Tư Viễn để giúp anh vượt qua khó khăn, hỗ trợ anh vực dậy gia đình và sự nghiệp. Mang ý định này, Đăng Khoa cùng hai người bạn khác dựa theo địa chỉ thư cũ tìm đến Nam Dương để tìm Tể Tư Viễn. Nhưng khi đến nơi, họ phát hiện hoàn cảnh của Tể còn thê thảm hơn họ tưởng. Gia đình Tể vốn không giàu có, chỉ nhờ vào danh tiếng của Tề Tư Viễn đệ nhất trong Tứ đại tài tử Trung Nguyên mà được nhiều người kính nể.
Khi tể quyết định khởi nghiệp, gia đình đã dốc toàn lực hỗ trợ, thậm chí cha anh còn cầm cố tổ trạch tài sản để có vốn. Nhưng sau khi thất bại, cả gia đình không còn chỗ chú thân, bảy tám người phải chen trúc trong một căn lều tồi tản. Cha anh chịu không nổi cú sốc, qua đời, Tề Tư Viễn vừa chịu tang cha, vừa phải gánh vác trách nhiệm nuôi sống gia đình, từ một tài tử phong lưu trở thành người lao động chân tay để kiếm sống.
Khi thấy Tề Tư Viễn trong bộ dạng tiểu tụy, ba người bạn đều không khỏi đau lòng. Đăng Ka, với ý định chuộc lỗi đã âm thầm chuộc lại tổ trạch cho gia đình Tề và đưa cả gia đình họ về sống trong căn nhà cũ. Anh còn đích thân xin lỗi Tề vì sự nóng vội, thiếu cẩn trọng của mình đã đẩy bạn vào hoàn cảnh khốn khổ.
Tuy nhiên, Tề Tư Viễn tỏ ra rất rộng lượng, ngược lại còn an ủi đăng khoa. Làm kinh doanh thì không thể nào có chuyện luôn luôn thắng lợi. Lần thất bại ấy, bản thân tôi cũng có phần trách nhiệm. Sau những lời tâm sự, Đăng Khoa đề nghị đưa Tề trở lại thành phố cùng các anh em đoàn tụ. Anh hứa sẽ tài trợ toàn bộ chi phí để gia đình Tề khôi phục tổ nghiệp và hỗ trợ tể khởi nghiệp lần nữa. Sau này cả nhóm có thể thường xuyên hội họp, cùng nhau đảm đảo như xưa.
Tuy nhiên, Tề Tư Viễn kiên quyết từ chối. Cha tôi vừa qua đời, theo phong tục quê nhà, tôi phải ở lại để chịu tang 3 năm. Những kế hoạch tương lai đợi mãn tang rồi tính tiếp. Dù cả ba người bạn hết lời khuyên nhủ, Tề vẫn giữ vững quyết định chịu tang. Có lẽ cái chết của cha là nỗi tự trách lớn nhất trong lòng anh. Và ba năm chịu tang chính là cách anh tự chuộc lỗi với bản thân. Thấy anh cương quyết như vậy, cả ba cũng không tiện nói thêm, chỉ để lại một khoản tiền giúp gia đình anh trang trại cuộc sống. Dù vậy, Tề Tư Viễn nhất quyết không nhận số tiền ấy.
Anh chỉ đồng ý nhận lại Tổ Trạch vì nó là nơi gia đình có thể chú ngụ, nhưng số tiền thì kiên quyết từ chối. Đừng nhìn cuộc sống hiện tại của tôi mà nghĩ nó khổ cực, so với trước đây, đây cũng là một loại tu dưỡng tinh thần. Nếu không trải qua nỗi khổ của nhân gian, làm sao hiểu được dân chúng thực sự cần gì. vốn là người điềm tĩnh thoát tục nhất trong tứ đại tài tử, Tề Tư Viễn nói những lời này khiến ba người bạn không thể không cảm phục. Họ chỉ hỏi anh còn bao lâu nữa thì mãn tang, hẹn ba năm sau sẽ quay lại để cùng anh hội ngộ.
Mọi người tính toán thời gian, dự đoán rằng còn bao lâu nữa Tề Tư Viễn mới có thể xuất hiện trở lại. Khi thấy ngày hẹn ba năm gần đến, ba người lại một lần nữa hẹn nhau đến Nam Dương để đón Tề Tư Viễn về. Nhưng lần này khi đến Nam Dương, họ phát hiện căn nhà cũ của nhà họ Tề đã trống không, không còn ai sinh sống. Họ dò hỏi hàng xóm và biết rằng nửa năm trước, Tề Tư Viễn đã dẫn cả gia đình rời đi trong đêm mà trước đó không hề có dấu hiệu nào báo trước.
Khi được hỏi, mọi người khẳng định không có ai ép buộc anh ta cả. Hàng xóm cho biết, trước khi đi, mẹ của Tề Tư Viễn vẫn còn trò chuyện thân mật với láng giềng sau bứa tối. Nhưng đến nửa đêm, họ bất ngờ thu dọn đồ đạc và truyền nhà. Người hàng xóm từng gặp họ lúc nửa đêm và hỏi đi đâu. Tề Tư Viễn đáp rằng anh sẽ lên tỉnh thành tìm bạn bè. Sau đó họ rời đi vội vã. Mọi người đều biết Tề Tư Viễn có vài người bạn có gia cảnh tốt ở tỉnh thành. Nhưng mãi đến bây giờ khi nhóm bạn tìm đến họ mới phát hiện Tề Tư Viễn chưa hề đến tỉnh thành mà đã mất tích không rõ tung tích.
Tề Tư Viễn đã đi đâu? Tại sao phải rời đi trong đêm? Vì sao lại không liên lạc với những người bạn trí cốt? Những câu hỏi này trở thành một vụ bí ẩn khó giải. Ba người đã đăng tin tìm người trên báo chi tiền lớn thuê người dò la tin tức nhưng cuối cùng vẫn không có kết quả. Họ đành phải ngậm ngùi trở về. Nhưng khi về nhà, sự mất tích của Tể Tư Viễn trở thành nỗi ám ảnh lớn trong lòng Quách Đăng Khoa. Anh không từ bỏ, mua nguyên một trang báo để liên tục đăng tin tìm người suốt hơn một tháng, kèm theo phần thưởng lớn cho ai cung cấp thông tin.
Nhưng trong thời buổi loạn lạc, rất nhiều người lợi dụng để cung cấp tin giả, làm mất thời gian của Quách Đăng Khoa, cuối cùng anh buộc phải tạm ngừng. Dù vậy, trong lòng Quách Đăng Khoa vẫn chưa thực sự từ bỏ việc tìm kiếm bạn mình. Nửa năm sau, anh bất ngờ nhận được một lá thư tử Bắc Bình, nội dung thư rất ngắn gọn. Tôi ổn, đừng lo lắng, đừng tìm kiếm, có duyên ắt gặp lại." Thư ký tên Tề Tư Viễn Quách Đắng Khoa nhận ra ngay chữ viết của bạn mình, nhưng để chắc chắn, anh nhờ thêm hai người bạn xác nhận. Tất cả đều đồng tình rằng đây chính là chữ viết của Tề Tư Viễn.
Dù biết Tề Tư Viễn vẫn còn sống là điều đáng mừng, nhưng những gì anh đã trải qua và đang làm giờ đây lại trở thành bí ẩn lớn hơn nữa. Lá thư không có địa chỉ, cũng không để lại bất kỳ manh mối nào. Dù biết anh đang ở Bắc Bình, nhưng tìm một người ở thành phố lớn như vậy chẳng khác nào mò kim đáy bể. May mắn thay, lúc này Quách Đăng Khoa đang có kế hoạch hợp tác kinh doanh với một thương nhân ở Bắc Bình. Ban đầu anh không nhất thiết phải đi, nhưng sau khi suy nghĩ kỹ, anh quyết định tự mình lên đường, một mặt để bản chuyện làm ăn, mặt khác cũng hy vọng sẽ tình cờ gặp lại Tề Tư Viễn.
Dù chỉ có một chút hy vọng mong manh, anh cũng quyết tâm không bỏ lỡ cơ hội. Quách Đăng Khoa Quyết không từ bỏ, bởi trong tâm khảm anh, đó là sự trung thành và đạo nghĩa đối với bạn bè. Chính đức tính này đã được anh thừa hưởng từ ông cố của mình.
Khi đó, Bắc Bình là kinh đô cú của nhà Mãn Thanh, nơi tình hình chính trị vô cùng phức tạp. Với sự hiện diện của các thế lực ngoại bang, quân phiệt mấy nội và cả nhóm cựu thần triều đỉnh cũ. Biết tin Quách Đăng Khoa muốn đến Bắc Bình, ông Cố không khỏi lo lắng. Nhưng anh đã trưởng thành và cần theo đuổi con đường riêng nên gia đình đành ủng hộ. Trước khi lên đường, ông cố dặn anh rằng nếu gặp khó khăn không thể vượt qua, hãy đến cửa hàng quan tài nhà họ Tống tìm người tên Kim Cang, người này sẽ giúp đỡ. Nếu Kim Cang cũng không giải quyết được, hãy tới chùa Tường Vân và tìm một vị hòa thượng họ Nạp Lan nói mình từ Thanh Lạc Dương tới.
Quách Đăng Khoa vốn dĩ không cảm thấy áp lực, bởi khi còn học ở Thượng Hải, anh đã quen biết nhiều bạn bè từ Bắc Bình, những người hiện hoạt động trong giới văn đàn nơi đây. Hơn nữa, công việc anh theo đuổi là làm ăn chính đáng nên anh không cần quá lo lắng. Đến Bắc Bình, anh gặp gỡ bạn cũ trước rồi mới đến gặp khách hàng. Trong không khí bàn chuyện kinh doanh trên bản rượu, công việc tiến triển rất thuận lợi, cả hai đều vui vẻ. Khách hàng hào hứng muốn dẫn Quách Đăng Khoa tham quan cuộc sống về đêm nổi tiếng của Bắc Bình, đặc biệt là khu bát đại hồ đồng.
Thật trùng hợp, khi hai người rời tửu lâu, họ bị một nhóm người ăn xin bao vây. Khách hàng đã quen với cảnh này nên liền xua đuổi, còn Quách Đăng Khoa thì lấy tiền lẻ ra bố thí. Nhóm người ăn xin tranh nhau nhận tiền, chỉ có một người đứng lặng lẽ ở rỉa tay cầm bát vỡ không chen lấn. Điều này khiến Quách Đăng Khoa chú ý.
Khi ánh mắt họ chạm nhau, người An xin lập tức ném bát và bỏ chạy. Ngay khoảnh khắc đó, Quách Đăng Khoa nhận ra người đó chính là Kề Tư Viễn người bạn mà anh đã tìm kiếm bấy lâu. Anh vội đuổi theo, nhưng do không quen thuộc đường phố Bắc Bình, anh nhanh chóng bị lạc và bóng dáng Tề Tư Viễn cũng biến mất trong màn đêm. Quách Đăng Khoa đứng giữa những ngõ ngách đan sen, lòng đầy tiếc nuối và tự hỏi vì sao Tề Tư Viễn lại rơi vào tình cảnh này. Với tài năng của mình, anh chắc chắn không cần phải trở thành người ăn xin. Anh lớn tiếng kêu gọi trong vô vọng.
Tề Tư Viễn, nếu cậu nghe được, hãy xuất hiện, có khó khăn gì anh em cùng nhau gánh vác. nhưng vẫn không nhận được hồi đáp. Khách hàng theo kịp Quách đăng khoa, thắc mắc tại sao anh lại đuổi theo một người ăn xin.
Sau khi nghe giải thích, khách hàng mỉm cười nói: "Tôi cứ tưởng chuyện gì ghê gớm, hóa ra là tìm người. Nếu chỉ biết tên mà không biết tung tích thì khó tìm, nhưng biết tên và biết anh ta ở khu vực ăn xin quanh đây thì việc tìm kiếm cũng không phải không thể." Quách Đăng Khoa đang bối rối thì nghe lời gợi ý của khách hàng, liền vội vàng đáp: "Nếu có thể giúp tìm được huynh trưởng của tôi, nhất định tôi sẽ hậu tạ." khách hàng cười nói: "Bà giáo, chín lưu mỗi nơi một kiểu, Bắc Bình này không thiếu gì, chỉ có mấy quy tắc rắc rối là nhiều. Đừng nói đâu xa, ngay cả đám ăn mày dưới chân thiên tử cũng chia địa bản, chia vai vế, thậm chí còn lấy danh nghĩa kia bang mà đi khắp giang hồ.
Ăn mày ở Đông Trực Môn không thể tùy tiện sang Tây Trực Môn xin ăn, mỗi nơi có một địa bản riêng, nếu lấn địa phận, chắc chắn đám này cũng đánh nhau đến đầu rơi máu chảy. Anh cứ để ý khu vực này, ngày mai tìm đến người cầm đầu của họ, gọi là đà chủ hay trưởng lão gì đó theo cách gọi của họ, hỏi một chút chắc chắn sẽ ra thông tin." Nghe xong, Quách Đăng Khoa thấy kế hoạch này hợp lý, nhưng cũng lo lắng. Huynh trưởng của tôi rõ ràng đang cố tránh mặt, nếu chờ đến ngày mai, có khi anh ấy đã thu dọn đồ đạp mà đi mất.
Nghĩ vậy, anh quyết định, việc này không thể chậm trễ, chúng ta đừng đến khu bát đại hồ đồng nữa. Ngày mai anh đến Hà Nam, tôi sẽ tiếp đón chu đáo. Còn hôm nay ta xử lý chuyện tìm người này trước đã." Khách hàng là người sảng khoái, nghe vậy cũng đồng ý ngay. Hai người quay lại tiểu lầu nơi họ vừa ăn tối. Khách hàng gọi người nhà tới, triệu tập vài người thân tín, giao nhiệm vụ tìm kiếm. Những người này lập tức chia nhau đi dò la tin tức. Trong lúc chờ đợi, khách hàng cũng chu đáo chuẩn bị vài bàn tiệc trong đại sảnh tựu lầu, dọn rượu ngon, thức ăn tốt để chiêu đãi đám ăn mày.
Bởi ông hiểu rằng dù là ăn mày cũng phải giữ thể diện cho họ thì việc mới suôn sẻ. Nếu tỏ ra khinh thường, coi họ là đồ bẩn thỉu, chắc chắn họ sẽ không thật lòng giúp đỡ. Chẳng bao lâu, một nhóm ăn mày trong trang phục rách rưới ùa vào, thản nhiên ngồi xuống bàn ăn và bắt đầu ăn uống. Cách ăn uống của họ có phần thô lỗ, nhưng khách hàng vẫn tươi cười mời rượu từng bản. Mãi sau hơn một canh giờ, đám ăn mạnh mới no nê. Người cầm đầu nhóm vừa xỉa răng vừa nói. Theo quy tắc của cái bang, không bao giờ bán đứng anh em mình. Ai mà chẳng có nỗi khổ riêng mới phải làm nghề này.
Đã làm cái nghề tranh cơm với chó thì chuyện ai từng giết người hay đốt nhà trước đây cũng không cần so đo. Giết người thì cũng chỉ cần đầu rơi xuống đất là xong. Nếu có thể chừa cho người khác một con đường sống thì cứ chừa. Nghe vậy, Quách Đăng Khoa hiểu ngay lý do họ không tiết lộ thông tin là vì sợ anh đến tìm Tể Tư Viễn để trả thủ hoặc vì nghĩ tề Tư Viễn có án nên họ không muốn bán đứng anh. Quách Đăng Khoa vội vàng giải thích, "Tôi và huynh trưởng chỉ có chút hiểu lầm, vì vậy anh ấy mới phải rời quê hương lên đây, nhờ các vị hảo hán giúp đỡ.
Nếu không, với tính cách của anh ấy, có lẽ đã chết đói từ lâu. Tôi tìm anh ấy chỉ để hóa giải hiểu lầm, đưa anh ấy về nhà." Người cầm đầu nhóm ăn mảnh nghe xong, quan sát Quách Đăng Khoa từ đầu đến chân rồi gật gù. Nhìn cậu em đây, đúng là không phải kẻ nói dối. Nói cậu và cậu ấy là huynh đệ, tôi tin. Nhìn hai người đều là dạng có chữ nghĩa trong bụng. Một người ăn mày đứng đầu nhóm vừa ăn xong liền nói: "Ăn cơm của cậu cũng không thể để phí. Ở trong ngõ Dương gia có một ngôi miếu thổ điện đổ nát, tiểu huynh đệ thường ngày vẫn nghỉ chân ở đó."
Nghe vậy, Quách Đăng Khoa vội vã chắp tay cảm ơn. "Đa tạ, đa tạ." Người ăn mạch khoát tay tiếp lời, "Đừng vội cảm ơn. Cậu có tìm được hay không, chúng tôi không đảm bảo, nhưng phải nói trước, nếu anh ấy không muốn đi với cậu thì cậu cũng không được ép. K bang chúng tôi rất khó khăn mới có một người biết chữ như anh ấy. Dù rằng việc đi ăn xin thật không phải nhưng chúng tôi vẫn không nỡ để mất người tài như vậy. Nói xong người ăn mày vẫy tay ra hiệu, cả nhóm lập tức đứng dậy, rời khỏi tửu lầu một cách gọn gàng, phong thái vô cùng điêu luyện.
Khách hàng cười bảo, "Cậu thấy chưa? Ở Bắc Bình này đừng xem thường bất kỳ ai, ai sống được ở mảnh đất này đều có câu chuyện riêng của mình." Hai người không chậm trễ, nhanh chóng thuê hai chiếc xe kéo và đi thẳng đến ngõ Dương ra. Tại Quý ngõ, họ tìm thấy một ngôi miếu thổ địa cũ kỹ. Khách hàng đứng ngoài cửa nói: "Cậu vào đi, anh em các cậu tâm sự, tôi ở đây chờ." Quách đang khoa gật đầu, đẩy cửa bước vào. Ngay khi anh vừa vào, một bóng người định trèo qua tường để chạy trốn. Quách đang khoa lập tức lao đến giữ chặt người đó, gọi lớn, "Đại ca tể, tôi biết là anh, có chuyện gì thì cứ nói rõ với anh em, dù có khó khăn gì tôi cũng ủng hộ anh 100%."
Người đó dừng lại, không giãy ruộn nữa, từ trèo xuống khỏi tường. Anh ta vuốt lại mái tóc rối bù. Dưới ánh trăng, Quách Đăng Khoa nhận ra ngay đó là Tề Tư Viễn mà anh đã tìm kiếm bao lâu nay. Tề Tư Viễn lạnh lùng nói: "Cậu về đi, tôi ở đây rất ổn. Tôi đã nói đừng tìm tôi nữa." Quách Đăng Khoa không chịu.
"Đại ca Tề, anh không nói rõ đã xảy ra chuyện gì, làm sao chúng tôi có thể yên tâm được?" Tề Tư Viễn nhìn Quách Đăng Khoa, cả hai đều hiểu tính cách của nhau. Có lẽ Tề Tư Viễn biết mình không thể cãi lại Quách Đăng Khoa, đành thở dài nói: "Cậu theo tôi." Anh dẫn Quách Đăng Khoa vào trong miếu, châm một đống lửa nhỏ và dọn dẹp miếu đường. Sau đó, anh chỉ vào bức tượng thần trên bàn thờ và hỏi: "Cậu có nhận ra ông ấy không?" Quách đang khoa đáp: "Đây là miếu thổ địa, dĩ nhiên thờ thần thổ địa, sao tôi lại không biết?" Tề Tư Viễn lắc đầu, "Cậu sai rồi, đây không phải là thần thổ điện địa phương mà là Lỗ Ban Công, tổ sư của Lỗ Ban Giáo."
Nghe đến đây, Bách Đăng Khoa giật mình, toàn thân dựng tóc gáy. Anh ngạc nhiên hỏi: "Anh đã gia nhập Lỗ Ban Giáo rồi sao?" Lỗ Ban Giáo nổi tiếng với Ngũ Tàn Tam Khuyết và hàng loạt lời nguyền kỳ quái.
"Sao anh lại tham gia vào đó?" Tề Tư Viễn cười khổ, "Trước khi quen cậu, tôi đã là người của Lỗ Ban Giáo. Không chỉ tôi, ngay cả cha tôi cũng là người của giáo phái này. Cậu có nhớ cha cậu từng kể rằng Lỗ Ban Giáo có 37 Đường Môn không? Tôi thuộc môn Quân Tử Đường." Quách Đăng Khoa kinh ngạc, "Anh là đường chủ của Quân Tử Đường sao?" Tề Tư Viễn gật đầu. Đúng vậy.
"Nhưng chuyện đó có liên quan gì đến cậu và tôi chứ? Là người của Lỗ Ban Giáo, tôi hoàn toàn có thể hành nghề mộc, thậm chí là bói toán, không lý nào phải làm ăn xin cả." Quách Đăng Khoa vẫn không hiểu.
"Cha tôi từng nói rằng người phạm phải mệnh bình tử thì cả đời không tích lũy được gì. Nhưng cũng không đến mức phải đi xin ăn. Sao anh lại rơi vào tình cảnh này? Tề Tư Viễn nhìn Quách Đăng Khoa, ánh mắt phức tạp.
"Cậu thực sự không hiểu sao? Cậu nghĩ cha cậu chưa từng kể cho cậu nghe về mối quan hệ giữa ông ấy và Quân Tử Đường? Hay là cậu quá ngây thơ? Tôi đã là người của Lỗ Ban Giáo từ trước khi quen cậu." Tề Tư Viễn trầm giọng nói.
"Ta đã là người của Quân Tử Đường trong Lỗ Ban Giáo từ lâu. Trước giờ ta giấu cậu là bởi vì ta tiếp cận cậu có mục đích. Ta nhận lệnh từ quân tử đường, tiếp cận cậu để hãm hại cậu nhằm chiếm đoạt thứ mà gia đình cậu đang giữ. Cậu hiểu chưa?" Quách Đăng Khoa lắc đầu kinh ngạc. Tôi không hiểu, dù cậu tiếp cận tôi với mục đích đó, nhưng chúng ta đã là anh em, cậu chưa từng làm tổn thương tôi. Tại sao? Tề Tư Viễn tiếp tục. Cậu có hiểu hay không cũng không quan trọng. Là anh em, ta không muốn hại cậu, nhưng ta không còn cách nào khác.
Cha ta đã bị họ giết, ta trốn lên Bắc Bình làm ăn mày, một phần để cứu cậu, một phần để bảo toàn mạng sống cho chính mình. Nếu cậu cứ tìm ta, cả hai chúng ta đều sẽ bị hại." Lời nói của Tề Tư Viễn khiến Quách Đăng Khoa không thể tin nổi. Anh hỏi: "Tại sao Quân Tử Đường lại muốn gia đình tôi? Rốt cuộc thứ mà họ đang tìm kiếm là gì?" Tề Tư Viễn đáp: "Cậu hãy về hỏi cha mình về cuốn sách cơ yếu tật, ông ấy sẽ nói cho cậu biết tất cả, còn bây giờ cậu đừng tìm ta nữa." Quách Đăng Khoa sững sờ, nhớ lại rằng ông cố của mình từng kể về lố ban giáo và quân tử đường, nhưng chưa bao giờ tiết lộ những bí ẩn sâu xa về giáo phái này.
Có lẽ ông Cố muốn tránh cho anh dính vào những tranh chấp nguy hiểm, nhưng giờ đây mọi chuyện đã rõ ràng hơn. Quân Tử Đường nhắm vào gia đình anh và Tề Tư Viễn bị ép buộc phải thực hiện nhiệm vụ này. Quách đang qua cắn răng nói: "Vậy là cậu trốn ở Bắc Bình làm ăn mày, chính là để tránh sự truy sát của quân tử đường. Tề Tư Viễn gật đầu, "Đúng vậy, ta không còn lựa chọn nào khác, nhưng ta không phải là người duy nhất từ quân tử đường. Nếu cậu tiếp tục tìm ta, chúng ta đều sẽ chết. Về đi và nói cha cậu cẩn thận hơn." Quách Đăng Khoa thở dài, lòng đẩy bất an, nhưng cũng hiểu rằng lúc này anh không thể làm gì hơn.
Anh gật đầu, quyết định rời đi nhưng lòng thề rằng sẽ tìm hiểu sự thật về cuốn cơ yếu tập và bảo vệ gia đình mình khỏi những nguy hiểm đang rình dập. Tề Tư Viễn nhìn Quách Đăng Khoa, giọng điệu vừa nghiêm nghị vừa u sầu. Tôi không biết nên vui hay buồn vì cậu tìm thấy tôi. Đăng Khoa, cậu nên quay về đi. Có những điều cha cậu không nói với cậu là để bảo vệ cậu. Tôi khuyên cậu, anh em một thời hãy tránh xa chuyện này, không biết gì là tốt nhất cho cậu. Anh thở dài rồi nói tiếp, nhưng cậu sinh ra đã mang mệnh cấp bái long đầu, lại có người đỡ đầu là cây trụ lớn.
Cha cậu không hay biết gì, đã vô tình cuốn vào cuộc đấu tranh giữa gia tộc Lôi và Lỗ Ban Giáo. Hiện tại một bản cờ lớn đang bao quanh gia đình cậu mà các cậu không hề nhận ra. Tránh né chuyện này thật sự không dễ dàng đâu. Hãy bảo trọng. Quách Đăng Khoa không chịu lùi bước, đáp: "Nếu đã không tránh được thì tôi không sợ anh cả. Bắc Bình không phải là nơi dành cho anh, ở đây, làm ăn mày là lãng phí tài năng của anh, mà Quân Tử Đường cũng sẽ tìm ra anh sớm thôi. Anh nên đi với tôi về nhà, anh em chúng ta ở cùng nhau ít nhất cũng có chỗ dựa."
Tề Tư Viễn lắc đầu, "Tôi ở đây tạm thời còn an toàn. Nếu quay về Trung Nguyên, chắc chắn tôi sẽ chết. Hơn nữa, ở Bắc Bình này tôi còn có việc phải làm.
Khi nào tôi hoàn thành hoặc khi cậu không thể tránh khỏi số phận của mình, chúng ta sẽ lại gặp. Nhưng giờ cậu hãy quay về, đừng tìm tôi nữa, đó là cách bảo vệ tôi tốt nhất." Nghe những lời này, Quách Đăng Khoa không thể nói gì thêm. Cuộc gặp gỡ với Tề Tư Viễn sau bao ngày xa cách để lại cho anh những suy nghĩ khó tả, anh rời khỏi ngôi miếu với tâm trạng nặng nề.
Khi ra ngoài, khách hàng đang chờ hỏi hiểu lầm đã giải quyết chưa? Quách Đăng Khoa lắc đầu cười khổ, có những hiểu lầm đã được làm rõ nhưng lại có những bí ẩn mới xuất hiện. Mỗi người một chí hướng, chúng ta đi thôi. Sau đó, Quách Đăng Khoa nhanh chóng hoàn tất mọi công việc tại Bắc Bình rồi vội vã rời thành phố. Anh nóng lòng muốn gặp ông Cố để hỏi rõ mọi bí mật về Lỗ Ban giáo. Trên đường trở về, lòng anh rối bời. Về đến nhà, anh lập tức kéo ông Cố vào thư phòng và kể lại toàn bộ cuộc đối thoại với Tể Tư Viễn. Nghe xong, ông Cố thoáng chút sợ hãi, sự lo lắng hiện rõ trên khuôn mặt.
Quách Đăng Khoa không kiềm được hỏi: "Ông Cố, Quân Tử Đường là gì? Cơ yếu tập rốt cuộc là thứ gì? Ông từng nói gia đình ta đã cắt đứt quan hệ với Lỗ Ban Giáo sau khi ông ngoại qua đời, vậy tại sao Quân Tử Đường lại muốn hại chúng ta? Biết không thể giấu được nữa, ông cố đành kể lại những bí mật về Lỗ Ban Giáo mà ông đã giấu kín."
Sau khi nghe xong, Quách Đăng Khoa thông minh đã tìm ra nhiều manh mối ẩn sau câu chuyện. Anh nói: "Con hiểu rồi, những báu vật của Lỗ Ban Giáo như Đầu Long gậy, Cơ yếu tập, tất cả đều là phần di sản để lại cho gia đình ta. Đây chính là bàn cờ mà Tề Tư Viễn đã nhắc tới." Ông Cố thở dài, gật đầu nói: "Đúng vậy, trước đây ông ngoại của con đã từng âm thầm bàn bạc với gia đình công thư trước khi qua đời. Họ giữ bí mật về những báu vật này, nhưng điều đó cũng đặt gia đình ta vào tầm ngắm của Lỗ Ban giáo và các thế lực khác.
Giờ đây, mọi chuyện đều đã sáng tỏ." Có lẽ là vậy. Ông Cố không chắc chắn trả lời. Quách Đăng Khoa trầm tư trong chốc lát rồi nói: "Cha, lúc đó cha là người trong cuộc, người ta nói rằng người trong cuộc thì mơ hồ, người ngoại cuộc thì sáng suốt. Hiện tại con lại có thể hiểu rõ nhiều chuyện. Ta biết đầu óc con luôn nhanh nhẹy. Nói thử xem." Ông Cố nói. Theo phân tích của Quách Đăng Khoa, điểm khác biệt cốt lõi giữa gia tộc công thư, người thờ Phượng Lỗ Bàn và gia tộc Lôi nằm ở thái độ đối với tổ sư gia. Gia tộc công thư cần niềm tin vào tổ sư gia để duy trì địa vị của mình.
Trong khi gia tộc lôi lệ thực tế hơn, công khai bày tỏ sự không tôn trọng đối với tổ sư gia lố ban. Họ không cần tổ sư gia để củng cố địa vị của mình mà dựa vào kỹ nghệ mộc tinh xảo của bản thân. Trước tiên, gia tộc công thư lấy tổ sư ra làm trung tâm tín ngưỡng, hỗ trợ cấu trúc toàn bộ giáo phái Lỗ Ban, nhưng họ lại gặp phải một điểm yếu chí tử, không thể đưa ra lời giải thích hợp lý cho lời nguyền của tổ sư gia Lỗ Ban. Tại sao một tổ sư gia đáng kính như vậy lại nguyền rủa con cháu của mình? Họ đã dựng lên một số lời rối trá, chẳng hạn như lời nguyền thực chất là sự giúp đỡ của tổ sư ra đối với hậu bối, hay rằng vật bị nguyền sẽ dẫn hậu bối đến một thế giới cực lạc.
Những lời nói dối này không thể được chứng minh, chỉ như thuốc mê tạm thời cho các tín đồ và không thể chịu được sự kiềm chứng. Tín đồ Phật giáo và đạo giáo thờ thần linh để tìm kiếm sự cứu dỗi linh hồn nhằm đối phó với nối sợ hãi về cái chết và sự vô định. Họ tin rằng thần linh có thể che chở cho họ, nhưng tín đồ giáo Lỗ Ban lại bị chính tổ sư gia của mình nguyền rủa. Một tổ sư gia như vậy thì có ích lợi gì? Do đó, lòng tin của tín đồ giáo Lỗ Ban đối với tổ sư ra chỉ là bảy phần kính, ba phần hoài nghi.
Đây là vấn đề tồn tại ngay từ khi giáo phái Lỗ Ban được thành lập. Gia tộc Công thư không thể đưa ra lời giải thích hợp lý cho lời nguyền và vấn đề này mãi không thể được giải quyết. Đó là nguyên nhân khiến 37 chi phái của giáo phái Lỗ Ban hành động riêng rẽ, không thể đoàn kết và thống nhất tay nghề. Gia tộc công thư không dám công khai phản đối tổ sư gia, nhưng lại muốn tìm ra câu trả lời cho lời nguyền mà không làm suy yếu tín ngưỡng đối với tổ sư gia. Họ sợ rằng câu trả lời sẽ bất lợi cho tổ sư gia và nếu tổ sư gia thực sự là một ma vương thì con cháu tự nhận là hậu duệ của Lỗ Ban sẽ trở thành trò cười.
Trong trạng thái mâu thuẫn này, gia tộc công thư cần một lực lượng giúp họ tìm ra câu trả lời trong bí mật. Tại kinh thành người ta gọi đó là bàn tay đen, trong khi tại ngoại ô, nó được gọi là làm việc đen. Gia tộc công thư chọn Đức tín đường của thầy Mão làm nơi gửi gắm. Dưới sự nghiên cứu của riêng tam hội, Đức Tín Đường đạt được những tiến triển đột phá trong việc giải mã lời nguyền. Các phát hiện của họ được ghi lại trong cuốn sách Cơ yếu ký truyền đời. Theo lời thầy Mão, cuốn sách này được tạo ra bởi tiền bối Trần Đức Tín của Đức Tín Đường.
Gia tộc Công thư biết rõ tầm quan trọng của cuốn sách, nhưng vẫn để nó lại ở Đức Tín Đường như một sự thừa nhận ngầm rằng Đức Tín Đường là chi phái được chọn. Sau biến cố lớn vào thời kỳ Thiên Khải, gia tộc công thư thất bại trước gia tộc Lôi và giáo phái Lỗ Ban suy tàn. Thực chất, nguyên nhân sâu xa vẫn là những vấn đề không được giải quyết từ lúc thành lập giáo phái. Hận thù chồng chất khiến sự suy tàn là điều không thể tránh khỏi. Gia tộc công thư nhân cơ hội ẩn thân nhưng vẫn giữ liên lạc mật thiết với Đức Tín Đường. Họ biết rằng chỉ có tìm ra câu trả lời cho lời nguyền mới có thể cứu vãn giáo phái Lỗ Ban.
Yeah.