Hiểu Đúng Về Đạo Cao Đài: Tôn Giáo Nội Sinh Và Những Nghịch Lý Thú Vị
![]() |
| Đạo Cao Đài và những biểu tượng tâm linh độc đáo |
Bàn Cầu Cơ Và Bối Cảnh Lịch Sử Ra Đời
Khi mà nhắc đến tôn giáo này thì những bàn cầu cơ thường là chi tiết gây tranh cãi nhiều nhất. Với góc nhìn của thế kỷ 21, cầu cơ rất dễ bị gắn nhãn là mê tín. Nhưng mà nếu thế chúng ta sẽ bỏ qua một cái điều quan trọng: Bàn cầu cơ không phải là nguyên nhân sinh ra đạo Cao Đài mà là phương tiện để tôn giáo này xuất hiện. Vào đầu thế kỷ 20, Nam Bộ là vùng đất có điều kiện xã hội rất đặc biệt. Đây là nơi chịu ảnh hưởng trực tiếp và sớm nhất của chế độ thực dân Pháp, nơi mà những đô thị như là Sài Gòn, Chợ Lớn hình thành tầng lớp công chức, trí thức bản xứ được đào tạo theo mô hình Tây học. Nhưng mà cũng chính tại đây, hệ giá trị truyền thống mà người Việt nương tựa hàng trăm năm lại bị lung lay mạnh mẽ. Nho giáo mất đi vai trò trụ cột xã hội, Phật giáo và Đạo Lão vẫn tồn tại trong dân gian nhưng mà đã không còn đủ sức để trả lời những vấn đề mới của thời đại thuộc địa. Vào trong bối cảnh này, nhiều người Việt mới rơi vào một cái trạng thái khủng hoảng tinh thần, sống ở giữa hai thế giới, không hoàn toàn thuộc về trật tự cũ nhưng mà cũng chưa thật sự hòa hợp với trật tự mới. Và chính trong giai đoạn này, thông linh học phương Tây du nhập vào Nam Bộ từ Pháp, Anh hay Mỹ vào cuối thế kỷ 19. Những phong trào cầu cơ, bàn xoay, chấp bút từng thu hút cả giới trí thức và khoa học. Khi vào Việt Nam, những thực hành ấy gặp một môi trường đã rất là quen với những tín ngưỡng dân gian, với cầu tiên hay gọi hồn nên mới nhanh chóng được tiếp nhận. Những buổi cầu cơ đầu tiên dẫn đến sự hình thành đạo Cao Đài không diễn ra trong bóng tối hay là ở tầng lớp dưới mà xuất phát từ một nhóm công chức trí thức của Nam Bộ. Vào năm 1925, Sài Gòn có một nhóm công chức người Tây Ninh bị hấp dẫn bởi thuật xây bàn để nói chuyện với các linh hồn ở phố Hàng Dừa (nay thì là phường Nguyễn Cư Trinh, Quận 1). Nhóm này gồm các ông là Cao Quỳnh Cư, Cao Hoài Sang, Phạm Công Tắc, đều là viên chức của chính quyền thuộc địa. Sau giờ làm thì họ mới rủ nhau cầu cơ gọi hồn để trò chuyện, chủ yếu là giải trí và xin thơ văn. Nhóm công chức cầu cơ được một thời gian thì đàn cơ vào ngày 15 tháng 12 năm 1925 xuất hiện một đấng ẩn danh tự xưng tên là A. Á. ớ., sau đó thì mới xưng danh là Cao Đài và chỉ định ba người này trở thành môn đệ. Sau đó qua một đàn cơ khác, đấng này mới nhận thêm ông Lê Văn Trung làm tín đồ — ông là một quan chức cấp cao từng làm nghị viên trong Hội đồng Thượng nghị viện Đông Dương. Tuy nhiên là trước khi bốn người này được đấng tối cao nhận làm tín đồ thì đã có một quan chức người Việt sống trầm lặng được chỉ định trở thành môn đồ đầu tiên của đạo Cao Đài. Vị môn đồ đầu tiên đó chính là ông Ngô Văn Chiêu, sau này là anh cả của tất cả tín đồ Cao Đài. Vào năm 1921, ông Ngô Văn Chiêu ra Phú Quốc làm tri huyện ở độ tuổi 43. Tại đây, trong một lần cầu cơ, ông được đấng tối cao nhận làm môn đồ đầu tiên. Ông Chiêu mới tiếp tục tu tập trong 3 năm ở Phú Quốc rồi trở về Sài Gòn vào năm 1924. Trong thời gian ở Phú Quốc, ông Chiêu đã bước đầu xây dựng được cách tu tập, thờ cúng, giáo lý của đạo Cao Đài. Cái điều đáng chú ý là từ rất sớm các thông điệp qua cơ bút không hướng tới việc phá bỏ những tôn giáo cũ mà liên tục nhấn mạnh đạo lý chung, luân lý làm người và việc quy nguyên những cái truyền thống tinh thần khác nhau. Năm 1926 đánh dấu bước ngoặt quan trọng, các buổi cầu cơ không còn mang tính chất thử nghiệm cá nhân mà dần hình thành một hệ thống giáo lý, tổ chức và nghi lễ. Đạo Cao Đài chính thức được khai đạo tại Tây Ninh, công bố sự ra đời của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ. Việc lập đạo không diễn ra trong bí mật mà được khai báo với chính quyền thuộc địa, có danh sách tín đồ, có cơ cấu tổ chức rõ ràng. Điều này mới cho thấy đạo Cao Đài ngay từ đầu không tự xem mình là một phong trào huyền bí bên lề xã hội mà là một tôn giáo nghiêm túc, có ý thức hiện diện công khai. Là một tôn giáo mới thành lập nhưng mà đạo Cao Đài nhanh chóng thu được một số lượng lớn tín đồ đến từ khắp các tỉnh Nam Kỳ với con số là gần 1 triệu tín đồ vào năm 1930, trong khi đó tổng dân số của Nam Kỳ chỉ khoảng 4 đến 4,5 triệu người. Và chính tại đây thì khái niệm Tam Kỳ Phổ Độ trở thành một trục tư tưởng trung tâm.Tam Kỳ Phổ Độ Là Gì?
Vậy thì ba thời kỳ phổ độ này là gì? Xin kính mời các bạn hãy tiếp tục tìm hiểu thật là chi tiết. Theo giáo lý thì lịch sử nhân loại không chỉ được nhìn như chuỗi sự kiện chính trị hay chiến tranh mà còn là một cái quá trình phát triển về đạo lý và nhận thức tinh thần. Con người theo cách nhìn này không ngay lập tức hiểu ra những cái chân lý cao siêu mà là phải đi qua nhiều giai đoạn khác nhau để học cách làm người, sống có trật tự và hướng thiện.- Nhất Kỳ Phổ Độ: Vào những thời điểm thượng cổ gắn với những tôn giáo, tín ngưỡng thời sơ khai. Thượng Đế mới dùng nhiều tên gọi và hình tượng khác nhau để dạy dỗ loài người thông qua những vị thánh, thần, tiên, phật ở từng vùng văn hóa. Ở Ấn Độ thì có Ấn Độ giáo (Bà La Môn), ở Trung Hoa thì có Đạo Lão, ở Ai Cập và Hy Lạp có các hệ đa thần. Lúc này trình độ con người còn thấp, mỗi dân tộc có tôn giáo riêng biệt và chưa có sự thống nhất toàn cầu về đạo lý.
- Nhị Kỳ Phổ Độ: Khoảng 2500 năm trở lại đây, Thượng Đế mới tiếp tục giáng chân qua những bậc giáo chủ, lập nên những tôn giáo lớn và nâng cao đạo đức của nhân loại. Ấn Độ có Phật Thích Ca Mâu Ni lập Phật giáo, Trung Đông có Chúa Giêsu lập Thiên Chúa giáo, sau này có nhà tiên lượng lập Hồi giáo, Trung Hoa thì có Khổng Tử phát triển Nho giáo. Đạo lý bắt đầu lan rộng hơn nhưng mà những tôn giáo vẫn phân chia, đôi khi mâu thuẫn và thậm chí là có chiến tranh tôn giáo.
- Tam Kỳ Phổ Độ: Thời kỳ thứ ba đang diễn ra, bắt đầu từ đầu thế kỷ 20 (năm 1926 trở đi) tại Việt Nam. Thượng Đế mới trực tiếp giáng cơ, xưng là Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát và mở ra đạo Cao Đài với mục tiêu hợp nhất tất cả tôn giáo trên thế giới vào làm một.
Ý Nghĩa Các Biểu Tượng Và Thánh Tượng Trong Thánh Điện
![]() |
| Thánh tượng Thiên Nhãn và các bậc giáo chủ trong đạo Cao Đài |
Bức ảnh bạn đang thấy là một thánh tượng rất là tiêu biểu trong giáo lý đạo Cao Đài, dùng để minh họa cách Cao Đài nhìn về vũ trụ, tôn giáo và con người. Ở vị trí cao nhất là Thiên Nhãn, là con mắt của Đức Chí Tôn. Thiên Nhãn được đặt giữa bầu trời, phát ra hào quang tượng trưng cho Thượng Đế vô hình, bao trùm lên toàn bộ vũ trụ. Việc không thờ hình người mà chỉ dùng con mắt mang ý nghĩa: Thượng Đế không bị giới hạn bởi hình tướng, không thuộc riêng một dân tộc hay văn hóa nào mà là nguồn gốc chung của mọi đạo lý.
Ở phía dưới Thiên Nhãn là sao Bắc Đẩu, trung tâm của Càn Khôn vũ trụ. Đây là nơi ngự của Đức Chí Tôn nên phải vẽ Thiên Nhãn ngay phía trên sao Bắc Đẩu. Hai bên sao Bắc Đẩu có vẽ mặt trời và mặt trăng, hợp lại là nhật nguyệt tinh tam bảo của trời. Thiên Nhãn được vẽ là con mắt trái, nghĩa là dương nhãn. Cái việc mà chỉ vẽ một mắt này mang ý nghĩa là Thượng Đế không cần nhìn bằng hai mắt như con người bởi vì mọi sự trong trời đất đều không thể che giấu. Dân gian Việt Nam ta vốn cũng quen với câu nói "trời cao có mắt" và Thiên Nhãn chính là cách đạo Cao Đài cụ thể hóa quan niệm ấy thành một biểu tượng trực quan.
Quan trọng hơn nữa, Thiên Nhãn không chỉ là con mắt của Thượng Đế nhìn xuống nhân gian mà là con mắt để con người ta tự soi lại chính mình. Trong đời sống của mỗi tín đồ, Thiên Nhãn nhắc nhở rằng mọi hành vi, lời nói, ý nghĩ đều cần đặt dưới ánh sáng của lương tâm và đạo đức để tự điều chỉnh bản thân, sống ngay thẳng, có trách nhiệm với người khác và với cả cộng đồng.
Bây giờ thì chúng ta hãy đến với các đấng ngồi bên dưới:
* **Đức Phật Thích Ca:** Ngồi ở giữa đắp y vàng, ngồi kiết già trên tòa sen, là giáo chủ của Phật giáo.
* **Đức Lão Tử:** Mặc áo đạo màu xanh, tay cầm phất chủ, râu tóc bạc trắng, đầu để trần, là giáo chủ của Tiên giáo.
* **Đức Khổng Tử:** Mặc áo đạo màu hồng, râu bạc trắng, đầu đội mão, là giáo chủ của Nho giáo.
Như vậy ở hàng ngang này là hình của ba đấng giáo chủ Tam giáo. Tiếp theo là các vị trấn oai nghiêm:
* **Đức Lý Thái Bạch:** Râu dài, đầu đội mũ cánh chuồn, ngài là một vị đại thiên tôn giữ chức Nhất trấn oai nghiêm, thay mặt Đức Lão Tử cầm quyền Tiên giáo.
* **Đức Quan Thế Âm Bồ Tát:** Vị nữ Phật ngự trên tòa sen, đắp y màu vàng, đầu đội mũ ni, tay phải cầm tịnh bình có nhành dương liễu, tay trái bắt ấn, ngài là Nhị trấn oai nghiêm thay mặt cho Đức Phật Thích Ca cầm quyền Phật giáo.
* **Đức Quan Thánh Đế Quân:** Đội mão, mặc áo đạo màu xanh, tay trái đang lật xem quyển kinh Xuân Thu, ngài là Tam trấn oai nghiêm thay mặt Đức Khổng Tử cầm quyền Nho giáo.
* **Đức Chúa Giêsu (Gia Tô giáo chủ):** Có tóc đen, râu ngắn, tay phải chỉ vào trái tim bác ái đang tỏa hào quang, ngài là giáo chủ của Thiên Chúa giáo.
* **Đức Khương Thượng Tử Nha:** Không đội mão, râu bạc trắng, mặc áo bát quái màu vàng, tay phải cầm cây roi đả thần, tay trái cầm cờ phất, đứng đầu thần vị. Cuối cùng thì là bảy cái ngai đặt phía dưới các đấng, sơn son thế vàng, tượng trưng cho bảy chức sắc cao cấp nhất của Cửu Trung Đài cầm quyền Nhân đạo.
Chúng ta đã thấy là các đấng ngồi theo hàng ngang thì cầm quyền của Tam giáo, còn các đấng ngồi ở giữa theo hàng dọc từ trên xuống dưới tượng trưng cho phương cách dạy đạo: Đức Phật Thích Ca tượng trưng cho Phật đạo, Đức Lý Thái Bạch tượng trưng cho Tiên đạo, Đức Chúa Giêsu tượng trưng cho Thánh đạo, Đức Khương Thượng tượng trưng cho Thần đạo, và bảy ngai của Cửu Trung Đài tượng trưng cho Nhân đạo.
Tổng KếtTóm lại là trong quá trình phát triển gần một thế kỷ qua, đạo Cao Đài cũng phải trải qua rất nhiều biến động nội tại. Việc tách phái hình thành những hệ phái khác nhau là điều đã xảy ra, phản ánh những khác biệt trong cách tổ chức, thực hành và diễn giải giáo lý.
Và đây thì không phải là hiện tượng riêng của Cao Đài mà là điều từng xảy ra với hầu hết những tôn giáo lớn trên thế giới khi mà lan rộng trong những bối cảnh xã hội khác nhau. Bên cạnh đó thì có những giai đoạn lịch sử mà đạo Cao Đài cũng như là nhiều tổ chức tôn giáo khác bị quấn vào dòng xoáy chính trị dẫn đến những ngã rẽ lịch lạc kéo dài cho đến tận hôm nay.
Tuy nhiên, nếu mà tạm gác lại những tranh cãi để nhìn vào bản chất, có thể thấy đạo Cao Đài vẫn giữ một vị trí rất đặc biệt trong đời sống tinh thần người Việt. Đây là một tôn giáo nội sinh, "made in Vietnam", ra đời trên chính mảnh đất này, sử dụng ngôn ngữ biểu tượng và tư duy của người Việt để trả lời những câu hỏi lớn nhất về đạo lý con người và vũ trụ. Đạo Cao Đài không chỉ tìm cách dung hòa các tôn giáo mà còn đặt con người ta vào trung tâm của quá trình tu dưỡng, nhấn mạnh trách nhiệm cá nhân đối với xã hội và cộng đồng. Vì vậy dù bạn tin hay không, dù bạn đứng trong hay đứng ngoài tôn giáo này, đạo Cao Đài vẫn là một trong những nỗ lực hiếm hoi và nghiêm túc của người Việt nhằm tự trả lời một câu hỏi rất căn bản: Chúng ta là ai trong thế giới này và chúng ta muốn sống với nhau bằng những giá trị nào?

