Một con kiến thì khá là ngu ngốc, nó không biết suy nghĩ, không có tư duy, không có ý chí, không có kế hoạch.
Nhưng nhiều con kiến thì lại tạo nên một cấu trúc xã hội vô cùng phức tạp.
Chúng hành xử như một sinh thể thống nhất, có thể chia việc rõ ràng, phối hợp kiếm ăn, xây tổ, tự vệ, hay mở rộng lãnh thổ mà chẳng cần ai chỉ huy.
Làm sao điều này lại có thể xảy ra?
Làm sao mà những thứ ngu ngốc lại có thể tạo nên một tập thể thông minh?
Cứ như là có một phép màu vô hình vậy. Đây chính là một trong những hiện tượng đẹp, đẹp và kỳ diệu nhất của thế giới tự nhiên.
![]() |
| Trồi Sinh (Emergence) - Phép màu đằng sau những thứ nhỏ bé. |
Nó ảnh hưởng đến mọi thứ trên đời này. Tất cả lĩnh vực từ toàn lý hóa sinh văn sự địa, kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, tôn giáo, chiết học, cho đến công nghệ kỹ thuật, khoa học may tính, hay trí tuệ nhân tạo. Có thể nói, hiện tượng này là một trong những đặc điểm hấp dẫn và bị ẩn nhất vũ trụ.
Và hơn hết, nó cho ta biết bản chất thực sự của cuộc sống này. Nó chạm đến câu hỏi lớn nhất của loài người đó là...
Ta đi đâu sau khi chết?Có lính hồn hay không?Có kiếp sau hay không?
Mọi chuyện bắt nguồn vào năm 350 trước công nguyên khi chiết ra hy lạp Aristot đưa ra một ý tưởng sơ khai như sau.
Toàn thể lớn hơn tổng các phần của nó.Aristot
Là sao nhỉ? Tôi cũng không hiểu.
Làm sao một thứ lại lớn hơn tổng các phần của nó được? Tức là khi nhiều phần tử nào đó tập hợp lại thành một toàn thể thì sẽ xuất hiện một cái gì đó mới lạ mà các phần riêng lẻ không có.
Hàm ý là bạn không thể hiểu một thứ bằng cách phân tích các phần rồi suy ra tổng thể.
Đại loại là vậy. Suốt hàng nghìn năm sau đó, chẳng ai quan tâm đến ý tưởng này. Mãi cho đến thế kỷ 17, nó lần đầu tiên bị phủ định bởi những ông lớn như Newton hay Descartes.
Năm 1637, René Descartes nói rằng:
có thể phân tích thế giới bằng cách chia nhỏ nó ra.
Chẳng hạn như trọng lượng của đống gạch thì bằng tổng trọng lượng các viên gạch. Hay như hiện tượng trời mưa bao gồm các quá trình nhỏ là nước bay hơi, ngưng tụ thành mây, rồi rơi xuống khi đủ nặng.
Tóm lại mọi thứ đều có thể chia nhỏ ra để giải thích từng phần bằng các quy luật vật lý. Biết rõ các phần thì sẽ biết rõ tổng thể, ngoài ra không có gì mới cả.
Nghe hợp lý mà đúng không?
Tổng trọng lượng đống gạch thì bằng tổng trọng lượng các viên gạch. Tổng trọng lượng một viên gạch lại bằng tổng trọng lượng các nguyên tử tạo nên viên gạch. Đó là điều hiển nhiên không có gì phải bàn cãi cả. Nhưng mà bây giờ như thế này nhá. Các bạn thử nghĩ xem viên gạch này có cái gì mà các nguyên tử tạo nên nó không có.
Đó chính là màu đỏ của viên gạch. Bản thân các nguyên tử không có màu sắc, nhưng chúng tạo nên viên gạch lại có màu đỏ. Tại sao lại như vậy?
Năm 1875, nhà sinh lý học người Anh George Henry Lewis cho rằng
Mọi thứ trên đời đều có 2 đặc tính là tính kết quả và tính trồi sinh. Trong đó tính kết quả có thể dự đoán từ các phần riêng lẻ. Con tính trồi sinh thì không.
Ví dụ trọng lượng của viên gạch có thể suy ra từ tổng trọng lượng các nguyên tử nên là tính kết quả.
Con màu đỏ thì là tính trồi sinh.
Năm 1923, nhà tâm thần học người Anh C.
Lloyd Morgan lần đầu tiên công bố hiện tượng trồi sinh trong sinh học.
Trong đó các mức độ thấp trồi sinh ra mức cao hơn.
Ví dụ như vật chất sinh ra sự sống.
Sự sống sinh ra ý thức.
Năm 1925, nhà chiết học khoa học người Anh C.
D.
Brod chính thức hệ thống hóa lý thuyết trồi sinh.
Ông chia thế giới thành các cấp độ là vật lý tạo ra hóa học, hóa học tạo ra sinh học, sinh học tạo ra ý thức.
Brod đặt câu hỏi liệu các cấp độ cao như ý thức có thể được chia nhỏ ra và giải thích bằng các cấp thấp hơn như lý hóa sinh không?
Hay là chúng có thứ gì mới?
Ông đưa ra một ví dụ nổi tiếng là Natree & Claw đều là chất độc.
Nhưng khi kết hợp lại thì thành mối ăn.
Brod kết luận rằng toàn thể có những tính chất mà các phần tạo nên nó không có.
Năm 1998, nhà vật lý người Mỹ Robert Laughlin được trao giải Nobel vật lý cho công trình chứng minh rằng Khi nhiều electron tương tác ở gần độ không tuyệt đối và từ trường cực mạnh, thì tạo ra một trạng thái lượng tử tập thể và xuất hiện những hạt có điện tích nhỏ hơn cả electron.
Đây là một hiện tượng lạ không có ở các electron đơn lẻ.
Laughlin chính thức đưa trồi sinh vào trung tâm của vật lý hiện đại.
Ông cho rằng vật lý giống như con buốc bê Nga nhiều lớp và mỗi lớp có một tính chất mới.
Vậy danh dưới giữa các lớp này là gì?
Nói cách khác.
Khi nào thì xuất hiện các tính chất mới?
Theo Laughlin, ở cấp độ Vimo như nguyên tử, các phương trình thường có tính đẳng hướng, tức là không có hướng cụ thể, không phân biệt trên dưới, trái phải.
Tuy nhiên, khi bước vào cấp độ cao hơn thì tính đối xứng bị phá vỡ, đây được gọi là quá trình chuyển pha.
Ví dụ nước ở dạng lỏng chuyển động tự do theo mọi hướng nên có tính đẳng hướng, nhưng khi đóng băng thì các phân tử sẽ tự sắp xếp lại thành mạng tính thể lục giác có hướng cụ thể.
Điều kỳ diệu là cấu trúc này không được lập trình trước trong từng phân tử H2O, mà chỉ xuất hiện từ tương tác giữa rất nhiều phân tử khi điều kiện đạt tới ngưỡng nhất định.
Hay như hiện tượng siêu dẫn, khi vật liệu được làm lạnh đến ngưỡng tới hạn thì sẽ mất hoàn toàn điện trở, dòng điện có thể chạy mãi mà không mất năng lượng, nó còn mất hoàn toàn từ trường và có thể lơ lưỡng trên 500.
Laughlin nhấn mạnh rằng, mọi thứ ta thấy ở thế giới Vimo không có ở thế giới Vimo, chúng hoàn toàn là kết quả của tròi sinh.
Vậy chốt lại thì tròi sinh là gì?
Tròi sinh tướng Anh là emergence, nghĩa là xuất hiện, nổi lên, hiện lên hay tròi lên, là hiện tượng các tính chất hoàn toàn mới xuất hiện trong một tổng thể mà các bộ phận của nó không có.
Hãy đi qua một loạt ví dụ như sau.
Mau đỏ của viên gạch tròi sinh từ tập hợp các phân tử silicad, từng phân tử riêng lẻ thì không có màu.
Dòng điện tròi sinh từ các electron, bạn không thể phân tích dòng điện từ electron riêng lẻ.
Sống âm tròi sinh từ truyền động của rất nhiều phân tử khí, hay như sống người tại các sân phận động tròi sinh từ truyền động của rất nhiều người, sống không tồn tại ở phân tử hay cá nhân đơn lẻ.
Bây giờ nói về sự sống.
Nguyên tử tạo nên phân tử, phân tử tạo nên tế bào, tế bào tạo nên cơ quan, cơ quan tạo nên cơ thể, cơ thể hình thành ý thức, ý thức hình thành xã hội.
Đó chính là tròi sinh.
Và đôi khi có những thứ không cần ý thức vận hình thành xã hội phức tạp, như loài kiến chẳng hạn, một đàn kiến có các vai trò chính như sau, 25 phần trăm kiến y tá chuyên chăm sóc ấu trùng, 25 phần trăm kiến kiến kiếm ăn đảm nhận việc thu thập thức ăn, 20 phần trăm kiến xây dựng có nhiệm vụ xây tổ, 20 phần trăm kiến lính chuyên bảo vệ đàn khối kẻ thù, 10 phần trăm kiến vẫn chuyển đảm nhiệm logistic, chúng giao tiếp với nhau bằng tín hiệu hóa học là pheromone, có mùi đặc trưng thông qua râu, cơ quan cực kỳ nhạy cảm với mùi.
Bạn đã bao giờ thấy hai con kiến đi ngược chiều đâm đầu vào nhau chưa?
Đây thực chất là chậm râu nhau để người pheromone, và biết được đối phương đang giữ vai trò gì vừa đi đâu về.
Ví dụ, kiến kiếm ăn thì tiết ra pheromone rằng, tôi là kiến kiếm ăn, tôi vừa ở chỗ kia về.
Bây giờ, giả sử đàn kiến bị tấn công và kiến kiếm ăn bị chết gần hết, nếu không khắc phục sớm thì cả đàn sẽ chết đói.
Lúc này những vai trò khác sẽ phải chuyển qua kiếm ăn, nhưng làm sao nói điều này cho cả đàn biết?
Thực ra không cần nói gì cả, chúng sẽ tự biết phải làm gì.
Ví dụ, một con kiến lính một ngày gặp ít nhất là 10 con kiến kiếm ăn, nếu gặp ít hơn số đó, nó sẽ chuyển qua đi kiếm ăn.
Cứ như vậy, chúng liên tục tái phân bồ đến khi sự gần bằng khôi phục lại, mà không cần bất kỳ kế hoạch hay mạnh lạnh chung ương nào, mọi thứ chỉ dựa trên giao tiếp rất cơ bản giữa các cá thể.
Đây được gọi là cảm giác cục bộ.
Một con kiến chỉ cảm nhận được pheromone ngay tại chỗ thôi, chứ không có cái nhìn toàn cảnh hay biết tổng thể đang thiếu vai trò nào.
Con kiến thậm chí còn không biết đàn kiến tồn tại, nó không có khái niệm về toàn thể, về cơ bản, nó chỉ là một đơn vị phản xã sinh học.
Nhưng khi hàng triệu đơn vị hoạt động theo quý tắc đơn giản, một chất tự phức tạp và thông minh xuất hiện, đó chính là trồi sinh.
Hiện tượng trồi sinh xuất hiện ở mọi nơi trong tự nhiên với độ phức tạp và tính chất khác nhau, được chia thành 3 loại như sau.
Loại 1 là trồi sinh cục bộ, là trồi sinh yếu thuần vật lý, trong đó hệ thống xuất hiện tính chất mới có thể suy ra từ các phần, và có thể tái lập chính xác.
Tức là nếu bạn thiết lập lại đúng các điều kiện ban đầu, thì trồi sinh sẽ xuất hiện một cách nhất quán.
Ví dụ như bông tuyết hình thành từ các phân tử nước, bạn chỉ cần tạo ra điều kiện nhiệt độ áp xuất tương tự thì sẽ thu được bông tuyết.
Loại 2 là trồi sinh phi cục bộ, là trồi sinh yếu có tính tương tác, trong đó hệ thống xuất hiện tính chất mới không thể suy ra từ các phần, và không thể tái lập chính xác vì hỗn loạn và nhạy cảm với điều kiện ban đầu.
Ví dụ như đàn kiến, đàn chim, đàn cá, hay là giao thông.
Giống như đàn kiến, đàn cá bơi lượng yển chuyển như một sinh thể thống nhất mà không cần con cá nào lãnh đạo cả.
Mỗi con cá chỉ tuân theo quy tắc đơn giản là luôn giữ khoảng cách với con cá bên cạnh.
Tương tự đàn chim bay hình chữ V cũng vậy.
Vì những hệ này hỗn loạn và phức tạp nên bạn không thể tái lập chính xác như tái lập bông tuyết được.
Bạn có thể mô phỏng một đàn kiến, nhưng không thể tái lập chính xác từng truyền động của chúng được, tức là biết được quy luật nhưng không thể lập lại y hệ.
Loại 3 là trồi sinh tăng cường, là trồi sinh mạnh có tính hồi quy, trong đó các phần tạo nên tổng thể xuất hiện tính chất mới ở cấp độ cao, và tính chất mới lại có thể tác động ngược lại hành vi của các phần.
Đây được gọi là nhân quả ngược.
Tạo nên nhân quả hai chiều và sinh ra vòng lập phức tạp, ví dụ như ý thức con người.
Các neurôn thần kinh tạo nên ý thức và cảm xúc, đó là nhân quả suôi.
Ý thức và cảm xúc lại có thể đưa ra quyết định, chẳng hạn như khi bạn cố gắng bất lo lắng, nạo bộ sẽ ức chế hoạt động của các neurôn ở vùng liên quan đến lo âu, đó là nhân quả ngược.
Và đó là tất cả ba loại trồi sinh, trong đó ý thức được cho là hiện tượng trồi sinh loại ba duy nhất tồn tại trong tự nhiên.
Như vậy bạn đã hiểu khá rõ về trồi sinh rồi.
Bây giờ trước khi đi sâu vào khám phá, con người và ý thức, thì chúng ta hãy cùng lướt qua một loạt trồi sinh để xem nó tác động như thế nào đến cuộc sống, và hiểu rõ bản chất của nó nhá.
Trồi sinh tác động sâu rộng đến mọi lĩnh vực trong đời sống, nhưng thứ mà nó ảnh hưởng sâu sắc nhất có lẽ là công nghệ thông tin và trí tuệ nhân tạo.
Đầu tiên, hãy đến với một trò chơi có tên là Game of Thrones.
Tức trò chơi sinh mệnh, tạm gọi là trò đời, là mô hình toán học nổi tiếng được nhà toán học người Anh John Conway phát minh năm 1970.
Trò chơi như sau, hãy hình dung một thế giới gồm các ô vương mỗi ô có 2 trạng thái sống hoặc chết nếu 1 ô đang sống.
Nó sẽ chết nếu có ít hơn 2 hàng xóm sống, nó tiếp tục sống nếu có 2 hoặc 3 hàng xóm sống, nó sẽ chết nếu có hơn 3 hàng xóm sống, nếu 1 ô đang chết, nó sẽ sống nếu có đúng 3 hàng xóm sống.
Cứ như vậy, tất cả các ô được cập nhật cùng lúc để tạo thành các thế hệ tiếp theo, chỉ với vài quy luật đơn giản và 2 trạng thái sống chết.
Trò đời có thể trò sinh ra những tổ chức vô cùng phức tạp, thậm chí nếu thiết kế khéo léo.
Mọi quy trình, logic và thuật toán đều có thể hiện thân trong trò đời, nó có thể mô phỏng bất kì máy tính hiện đại nào.
Năm 2000, kỹ sư máy tính Pwn Randall đã xây dựng một máy tính hoàn chỉnh trong trò đời, gồm các mẫu giao động như đồng hồ trong vi mạch, các tàu lượng để truyền dữ liệu, các cổng logic từ các va trạng, một vũ trụ logic vô cùng phong phú đã được tạo ra chỉ từ các ô vuông.
Trò đời chỉ là một ví dụ rất cơ bản thôi.
Ta hãy nói sâu hơn về tác động của trò sinh trong công nghệ thông tin.
Trong công nghệ thông tin, có 2 su hướng lập trình chính là lập trình hướng thủ tục và lập trình thủ tục, hiểu đơn giản, lập trình hướng thủ tục là mô hình tổ chức trương trình theo trình tự các bước sử lý, mỗi bước là một hàm, tạo thành một chuỗi các câu lệnh nếu, thì...
nó được dùng cho các hệ thống có luồng đơn giản như quản lý bộ nhớ, điều khiển robot hay thiết bị máy móc như điều hòa máy dật máy in.
Thậm chí, các hệ điều hành như windows, macOS, linux đều có loại viết bằng C theo mô hình thủ tục.
Tuy nhiên, khi hệ thống trở nên phức tạp thì hệ thống trở nên phức tạp, thì nó không còn khả dụng nữa, lúc này bạn cần đến lập trình hướng đối tượng, là mô hình tổ chức trương trình thành các đối tượng tự chỉ, có thuộc tính và hành vi riêng, tương tác với nhau bằng các thông điệp.
Giống như đàn kiến, mỗi đối tượng như một con kiến phối hợp thông qua tín hiệu cục bộ không cần mạnh lạnh, nhưng vẫn tạo ra hành vi thống nhất.
Điều này giúp hệ thống hoạt động hiệu quả trong môi trường nhiều thành phần tương tác, cần phối hợp phức tạp và phản ứng linh hoạt như AI, trình duyệt, game, ứng dụng, hay mạng xã hội như Facebook, TikTok hay YouTube.
Hệ thống để suất video của YouTube không được lập trình từng hành vi cụ thể, mà là sự kết hợp của nhiều đối tượng như đối tượng theo dõi hành vi người dùng, phân tích nội dung video, tính toán mức độ phù hợp, vân vân.
Chúng phối hợp nhịp nhàng như một hệ sinh thái và tạo ra những hành vi để suất linh hoạt.
Bây giờ, hãy giải một bài toán tính diện tích hình chữ nhật với hai mô hình lập trình bằng ngôn ngữ Python.
Bên thủ tục thì chỉ là một hàm tính toán gồm giữ liệu dài, rộng và hàm tính diện tích tách biệt.
Còn bên hướng đối tượng thì hình chữ nhật là một đối tượng chưa giữ liệu dài, rộng và hành vi tính diện tích.
Nó là một thực thể độc lập, có thể mở rộng thêm hành vi như tính chu vi hay thay đổi kích thước.
Vân vân.
Khi muốn thêm hình tròn, vuông, tam giác, với thủ tục thì bạn phải mở hàm ra và sửa lại cốt.
Còn hướng đối tượng thì chỉ cần tạo các lớp mới độc lập mà thôi.
Tóm lại, thủ tục tư duy theo kiểu làm gì trước, làm gì sau, hành vi hệ thống chỉ là kết quả cộng rồn.
Còn hướng đối tượng tư duy theo kiểu ai chịu trách nhiệm cho cái gì, hành vi hệ thống là kết quả của tương tác nên có thể tròi sinh ra những hành vi hoàn toàn mới.
Chắc các bạn cũng đã hình dung được tác động của tròi sinh trong công nghệ thông tin rồi.
Vậy ta hãy đi sâu hơn vào phần trọng yếu nhất, đó là chí tuệ nhân tạo.
Chí tuệ nhân tạo hiện nay đã vượt xa con người trong nhiều lĩnh vực nhờ sức mạnh tinh toán khổng khiếp.
Một trong những cách để test sức mạnh của AI là thông qua các trò chơi trí óc, và nó gần như đã đánh bại con người trong mỗi trò chơi.
Tuy nhiên, có một trò chơi từng được coi là bất khả thi với AI, đó là cơ vây.
Cơ vây là một trong những trò chơi khó nhất cho chí tuệ nhân tạo, bởi vì độ phức tạp về mặt chiến lược của nó khủng khiếp hơn cơ vua, cơ tướng hay cơ caro rất nhiều lần.
Cụ thể, bàn cơ vây có 361 vị trí, số lượng thế cơ hợp lệ là khoảng 10 mũ 172 và số ván cơ hợp lệ lên đến 10 mũ 700, 1 con số không thể tưởng tượng nổi.
Để bạn dễ hình dung thì số nguyên tử trong toàn vũ trụ chỉ có 10 mũ 80, trong khi cơ vua chỉ có khoảng 10 mũ 47 thế cơ hợp lệ.
Ngoài ra, cơ vua có chiến thuật ngắn hạn và rõ ràng, có thể đánh giá chính xác từng bước đi.
Ngược lại, cơ vây thiên về chiến lược toàn cục chứ không có cách chấm điểm từng vị trí, một nước đi nhỏ ở góc bàn cờ có thể ảnh hưởng đến toàn cục chỉ sau vài trục lượt.
Cơ vây cũng không có quân mạnh yếu như cơ vua mà giá trị quân cơ phụ thuộc vào thế chận xung quanh khiến việc đánh giá tình huống rất khó.
Và đặc biệt, các kỳ thủ cơ vây chuyên nghiệp thường chơi bằng trực giác và cảm nhận hình dạng như thế đẹp, thế sấu, những điều rất mơ hồ và khó diễn đạt bằng logic như cơ vua.
Người ta đã tạo ra được AI cơ vua đánh thắng con người từ năm 1997 khi Deep Blue của IBM đánh bại siêu đại kiện tưởng người Nga Gary Kasparov kỳ thủ mạnh nhất lịch sử.
Kể từ đó, những AI mạnh hơn liên tục ra đời.
Và hiện nay, Stockfish đang là AI cơ vua mạnh nhất thế giới với ELO lên đến 3.700, vượt xa kỷ thủ số 1 thế giới là Magnus Kansen với ELO chỉ khoảng hơn 2.800.
Stockfish là một AI mà án nguồn mở được viết bằng xe cộng cộng theo mô hình thủ tục, nó hoạt động bằng cách duyệt hàng triệu trạng thái mỗi dây để chọn ra nước đi tối ưu.
Phương pháp này được gọi là Brute Force hay thuật toán vết cạn là phương pháp giải quyết vấn đề bằng cách thử tất cả các khả năng.
Brute bắt nguồn từ tiếng Latin Brutus, nghĩa là thô bạo hay vô lý trí, dùng để chỉ những hành động theo bản năng.
Không suy nghĩ Brute Force nghĩa là sức mạnh thô bạo hay sức mạnh mù quáng, tức là hành động không cần chiến thuật gì hết, chỉ cần kiên trì mà thôi.
Ví dụ, Hiker giải một mật mã bốn chữ số bằng cách thử tư 0000-9999 cho đến khi tìm được cái đúng.
Không cần tư duy gì hết, chỉ đơn giản là vết cạn mọi khả năng.
Thuật toán vết cạn chính xác tuyệt đối và chắc chắn tìm ra lời giải nếu đủ thời gian.
Stockfish dùng vết cạn vì cơ vua chỉ có 10 mũ 47 trạng thái, vẫn nằm trong giới hạn của siêu may tính.
Còn như cơ vây, với số trạng thái là 10 mũ 172, ngay cả khi bạn dùng tất cả máy tính trên trái đất.
Mỗi máy kiểm tra 1000 tỷ trạng thái 1 giây suốt từ Big Bang đến giờ là gần 14 tỷ năm, thì cũng chỉ duyệt được khoảng 1 phần 10 mũ 132 trạng thái thôi, con số này gần như bằng không.
Thậm chí, nếu mỗi nguyên tử trong vũ trụ là một siêu máy tính trại hàng tỷ tỷ năm thì vẫn không hơn là mấy.
Như vậy, dùng vết cạn để giải cơ vây là điều bất khả thi, cơ vây thực sự là ác mộng đối với AI.
Người ta đã từng cho rằng phải mất đến hàng 100 năm nữa thì con người mới thiết kế ra được 1 AI đánh thắng được con người trong cơ vây.
Cho đến khi có 1 thứ xuất hiện.
Vào ngày 10 tháng 3 năm 2016, trong vàn thứ 2 giữa AI cơ vây Anfago của Deep Mind và kỳ thủ số 1 thế giới lúc 7 giờ là Lysedo.
Tại luật đi thứ 37, Anfago bất ngờ đi 1 nước rất ngáo mà không kỳ thủ chuyên nghiệp nào dám nghĩ đến.
Đó là 1 nước năm ở đường 5, sát dì ở bên phải, 1 vùng không quan trọng chút nào.
Không ngờ gặp phải thằng Lio, Lysedo bối rối đứng dậy rời khỏi bàn bước ra ngoài, lúc sau quay lại vẫn rất bối rối.
Tuy nhiên, khoảng 15 nước sau, người ta bắt đầu nhận ra đó là 1 nước đi thiên tài.
Nó phát triển 1 thế lực bên phải bàn cờ, đồng thời vô hiệu hóa khả năng phản công của Lysedo.
Tạo ra ưu thế rõ rệt dẫn đến chiến tháng sau cùng với tỷ số 41 cho Anfago.
Anfago lúc đó có elo khoảng 3.500 trong khi Lysedo khoảng 3.600, vậy mà nó vẫn thắng áp đảo.
Sự kiện này được gọi là nước đi 3.7, nó đã gây chân động thế giới, trở thành khoảnh khắc lịch sử của trí tuệ nhân tạo và toàn bộ nền khoa học máy tính hiện đại.
Lần đầu tiên AI không còn bắt trước con người nữa, nó đã tạo ra 1 thứ hoàn toàn mới mà con người không thể nghĩ ra được.
AI đã chính thức vượt mặt con người trong tư duy chiến lược.
Nước đi 3.7 chân động sâu rộng đến mức, Google đã làm riêng 1 bộ phim tài liệu dài 90 phút mang tên Anfago ra mắt năm 2017.
Đấy được xem là 1 trong những phim tài liệu hay nhất về AI, đạt được rất nhiều giải thưởng danh giá tại các liên hoàn phim.
Bạn có thể xem miễn phí bộ phim trên kênh YouTube Google DeepMind.
Thật tình cơ là lúc mình làm video này thì bộ phim có đúng 3.7 triệu lượt xem.
Đời đúng là có nhiều điều trùng hợp các bạn nha.
Về sau, DeepMind tiết lộ rằng không có nước đi nào giống nước đi 3.7 trong hàng triệu ván cờ cả.
Sắc suốt 1 người đi nước đó là dưới 0.001% kể cả các đại cao thủ.
Chính Lee Sedon cũng thừa nhận rằng, tôi cảm thấy có 1 thực thể siêu việt đã bước vào giới cờ vây, 1 thứ gì đó không thuộc về loài người.
Nước đi 3.7 sau đó được các kỹ thủ trên toàn thế giới nghiên cứu và học hỏi.
Nó làm thay đổi hoàn toàn cách nhìn nhận về chiến lược.
Các thể chận cờ vây mới sau năm 2016 đều mang dấu ấn của Anfago.
Vậy, Anfago hoạt động như thế nào?
Anfago không sử dụng thuật toán kiểm tra hàng triệu nước đi như Stockfish.
Nó cũng không được dậy cụ thể chiến thuật nào.
Nó tự học và tự trâu rồi từ con số không bằng cách tự chơi với chính mình.
Cụ thể hơn.
Stockfish và Anfago chính là điền hình của 2 trường phái AI hiện nay là AI cổ điển và AI học máy trong đó.
AI cổ điển là mô hình dựa trên quan điểm rằng, trí thông minh có thể tạo ra bằng logic.
Tương tự mô hình thủ tục, tức là lập trình viên viết ra một loạt quý tắc, rồi máy tính theo đó mà thực thi.
Tuy nhiên, khi gặp tình huống chưa được lập trình thì nó sẽ bó tay.
Đây là lúc người ta cần đến AI học máy, là mô hình không được lập trình sẵn, mà chỉ cung cấp thật nhiều dữ liệu để nó tự học.
Vậy, AI học máy được tạo ra như thế nào?
Có nhiều cách để làm điều đó, nhưng phổ biến nhất là sử dụng mạng Neuron, một câu chúc lấy cảm hứng từ Neuron trong não người.
Neuron chỉ là một hàm đơn giản, nó là đơn vị tính toán nhỏ nhất.
Nhiều Neuron kết hợp lại thì thành một lớp, là một tầng tính toán.
Và dữ liệu sẽ được truyền qua từng lớp, tương tự tiến hiệu điện truyền trong não.
Khi dữ liệu nhiều hơn thì cần nhiều lớp hơn, có thể lên đến hàng trăm, thậm chí hàng ngàn lớp từ đó xinh ra mạng Neuron sâu.
Đây được gọi là học sâu.
Lúc này nó có thể tự học mà không cần ai chỉ bảo.
Đây chính là điển hình của trí tuệ trối sinh.
Từng Neuron chỉ là một hàm đơn giản, nhưng nhiều Neuron kết hợp lại học được những thứ mà con người không lập trình nổi, giống như đàn kiến, trí tuệ không nằm ở từng con kiến, mà phát sinh từ tương tác của toàn hệ thống.
Với cờ vây, A.I.
học sâu không được lập trình là chơi như nào thì tốt, mà nó được cung cấp hàng triệu ván cỡ để tự khám phá ra những đặc điểm dẫn đến chiến thắng.
Một ví dụ gần hơn là ngôn ngữ ta sử dụng hàng ngày.
Ngôn ngữ là một dạng trồi sinh nhận thước hình thành từ trải nghiệm cá nhân thông qua hai quá trình là nhận dạng mẫu và kiểm tra giả thuyết.
Ví dụ, khi bạn đi qua một người đàn ông và anh ta nói, thích nhìn không?
Lần đầu thì bạn chỉ hiểu đơn giản là anh ấy đang hỏi thôi, nên bạn trả lời là thích.
Nhưng sau vài lần an đòn, bạn sẽ nhận dạng mẫu câu và thái độ, rồi tạo giả thuyết là người ta đang đe dọa chứ không phải đang hỏi.
Sau đó, kiểm tra giả thuyết bằng cách nhìn đi nơi khác trong những lần tới.
Không bị an đòn nữa thì giả thuyết là đúng.
Dần dần, bạn hiểu được hàm ý lời nói mà không cần ai dậy.
Đây gọi là trí thông minh mô hình hóa kinh nghiệm sống, chính là cơ chế của AI học sâu.
Thế một ví dụ tương tự là đã bao giờ bạn chọn một đáp an tiếng Anh chỉ vì nó đọc thuận mồm, dù không biết ngữ pháp, đây là một dạng trồi sinh vô thức sau nhiều lần tiếp xúc với mẫu câu trước đó.
An nhân tiện một chút thôi nhá, thì mình thấy rất nhiều bạn thân là tại sao mà học mãi không giỏi được tiếng Anh.
Thì mình muốn chia sẻ một chút là khi học bất kỳ ngôn ngữ nào cũng vậy.
Nữ pháp và tự vực là quan trọng, nhưng điều quan trọng nhất đó là các bạn phải tiếp xúc với nó thật nhiều.
Có thể là qua sách báo, game hoặc là phim ảnh chẳng hạn.
Đây chỉ là cách mà AI học máy hoạt động và lúc này câu nói đừng có học như cái máy có lẽ không còn đúng nữa.
Học sâu là nền tảng ra đời của các mô hình AI mạnh, như chát GPT hay Gemini chẳng hạn.
Chúng có thể làm thơ, viết văn, lập trình, mà không cần con người thiết lập cụ thể trong từng dòng lệnh.
Hay điển hình như Anfago, nó được DeepMind xây dựng bằng python và xe cộng cộng, sử dụng học sâu với mạng Neuron tích chập, kết hợp học tăng cường, đã tạo nên nước DB7 huyền thoại.
Anfago và Stockfeet, dù thuộc hai thế giới khác nhau, một bên cơ vua, một bên cơ vây, nhưng xét về chiều sâu kiến chúc AI thì Anfago vượt xa, vì nó gần hơn với bản chất của trí tuệ choi sinh.
Nếu gọi Stockfeet là máy tính, thì Anfago là máy nghĩ, một bên là sức mạnh tính toán, một bên là sức mạnh trí tuệ.
Tuy vậy, nếu Anfago chơi cơ vua thì sẽ bị Stockfeet đánh bại ngay lập tức, vì bản chất của nó vẫn chỉ là AI cục bộ, hay AI hẹp là loại AI chuyên xử lý một miền cụ thể.
Có rất nhiều loại AI hẹp khác nhau chẳng hạn.
AI trỏ chơi như Anfago, Stockfish, AI ngôn ngữ như Chet GPT, Siri, AI hình ảnh như Gemini, Stable Diffusion, AI nghệ thuật như Chet GPT, Mid Journey, AI vật lý như điều khiển auto, robot và drone.
Tất cả đều rất giỏi nhưng chỉ trong phạm vi giới hạn.
Đứa thì chơi cờ cực hay nhưng lại không biết làm văn, đứa thì tạo video cực đẹp nhưng lại không biết lái xe.
Vì vậy, người ta đang cố gục chúng lại với nhau thành một chí tuệ thống nhất, gọi là chí tuệ nhân tạo tổng quát, là hệ thống có chí tuệ như con người.
AI được coi là đỉnh cao cuối cùng của chí tuệ nhân tạo.
Nhưng nhiều ý kiến cho rằng AI chỉ là bước chung gian để đạt đến một tầng cao hơn là siêu chí tuệ nhân tạo, ASI, một chí tuệ vượt xa con người.
Vậy, sắp có AI chưa?
Chúng ta đã tiến rất gần đến AI, các mô hình học sâu của Mỹ như chat GPT, Gemini hay XAI đang cho thấy những năng lực vượt bậc.
Đặc biệt, GPT4 đã bắt đầu tương tác đa phương thức với khả năng nhìn nghe nói giống con người.
Tuy vậy, chúng vẫn chưa phải AI, chúng chưa thể cảm nhận thế giới vật lý qua cơ thể, chưa có cái tôi, chưa có trải nghiệm chủ quan, chưa có cảm xúc, chưa có chỉ nhớ liền mạnh, chưa biết tự đạt mục tiêu và hình thành thế giới quan riêng.
Tuy vậy, người ta cho rằng nếu vẫn đã phát triển như hiện tại thì chỉ khoảng 10 năm nữa sẽ có AGI và chính điều này cũng dẫn đến những mối lo.
Nếu AGI giỏi hơn con người thì liệu ta có còn sai bảo được nó không?
Nếu nó thuộc sở hữu độc quyền của một nhóm người thì sẽ thế nào?
Đây là lý do một số nước như Trung Quốc không theo đuổi AGI.
Thay vào đó, họ ưu tiên CAI, tức AI nhận thức là mô hình mô phỏng nhận thức của con người nhằm phục vụ đời sống và giám sát xã hội.
Nếu bạn để ý thì người Trung Quốc luôn tránh nhắc đến cũng từ AGI.
Trung Quốc với thể chế tập trung, ưu tiên kiểm soát và ổn định, thiên về việc máy móc hiệu con người, nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và phục vụ sã hội.
Ngược lại, Mỹ với thể chế phân tán, ưu tiên tự do cá nhân, thiên về mở rộng năng lực tư duy tổng quát của máy, thúc đẩy một trí tuệ độc lập thực sự, có thể thích nghi và suy nghĩ vượt ngoài giới hạn.
Có thể nói, sự khác biệt giữa AI nhận thức của Trung Quốc và AI tổng quát của Mỹ phản ánh sâu sắc hệ giá trị và bản chất xã hội của hai quốc gia.
Nhìn rộng hơn, chính bản thân xã hội cũng là một hệ trồi sinh mà không được lập trình sẵn.
Từ tương tác của các cá nhân với suy nghĩ và hành vi riêng biệt, đã hình thành nên một xã hội phức tạp, giống như một đàn kiến.
Tuy nhiên, xã hội khác đàn kiến ở chỗ có nhân quả ngược cực mạnh.
Khi cá nhân tạo nên xã hội, thì xuất hiện luật pháp và đạo đức, rồi luật pháp và đạo đức lại điều hướng ngược lại cá nhân.
Mọi cấu trúc quanh chúng ta đều vận hành như vậy, từ quốc gia cho đến đảng phái, tổ chức, cộng đồng, thành phố, hay công ty, nhưng trồi sinh tác động còn hơn thế nữa.
Để hiểu rõ hơn, ta hãy vi dụ về công ty.
Nếu một công ty vận hành như mô hình thủ tục, cấp này cấp kia, mọi thứ phải qua phê duyệt, phải theo lệnh cấp trên, thì rất khó có đột phá.
Ngược lại, một công ty vận hành như hướng đối tượng, nơi mỗi cá nhân là một đối tượng độc lập có thể tự do sáng tạo giống như đàn kiến, thì có thể trồi sinh ra kết quả phi thường.
Apple của Steve Jobs là một ví dụ điển hình.
Không cần mệnh lệnh hay quản lý gắt gào, mà thay vào đó là một hệ thống phi cấp bậc, phi thủ tục, tập trung vào văn hóa và tầm nhìn, với các đối tượng sáng tạo độc lập một cách mượt mà.
Từ đó trồi sinh ra những sản phẩm mang tính cách mạng như MacBook, iPhone, iPad.
Ở phạm vi dọng hơn, những thành tựu công nghệ như Apple, Huawei, Google, TikTok, AII và chip ban dẫn không đơn thuần chỉ đến từ những cá nhân xuất sắc, mà bật chất chúng là trồi sinh của một xã hội mạnh, một thể chế mạnh, một nền văn hóa mạnh.
Công nghệ không chỉ là máy móc hay tài liệu kỹ thuật, mà còn là tư duy, cơ chế và văn hóa đã tạo ra nó.
Nó là trái ngọt của một nền văn minh.
Đó là lý do nhiều nước tiếp nhận chuyển giao công nghệ, nhưng không thể vận hành hiệu quả, bởi thiếu từng tư duy và văn hóa để duy trì nó.
Như vậy, bạn hiểu khá rõ về trồi sinh và tác động của nó trong hàng loạt lĩnh vực rồi.
Có thể nói, nó là nền tảng vô hình chi phối mọi thứ trên đời này.
Bây giờ, hãy thu hệp phạm vi lại, hãy quay về bên trong, nhìn vào bên trong chính bạn, chính bản thân bạn.
Người đang xem video này, bạn cũng là một sản phẩm của trồi sinh.
Bạn đã bao giờ nghĩ rằng có khi nào mình là người duy nhất thực sự có ý thức.
Còn tất cả những người xung quanh chỉ là các nơi PC được tạo ra để tương tác với mình hay không?
Ý thức là một hiện tượng tương tác điện hóa phức tạp giữa hàng tỷ neuron vô chi vô giác kết nối với nhau và thực hiện các phép tính trong nãu.
Và khi đổ phức tạp của các phép tính tăng lên thì xuất hiện ý thức, nhưng làm sao các neuron lại tạo ra được cảm giác hiện diện của tôi và bạn?
Làm sao mà các phép tính và tín hiệu điện hóa lại tạo ra được trải nghiệm chủ quan, như cảm giác vui buồn rận hơn.
Bản thân neuron được tạo thành từ các nguyên tử.
Vậy trải nghiệm làm người như vui buồn rận hơn chỉ đến từ các nguyên tử thôi sao?
Hơn nữa, ý thức là mô hình trồi sinh có nhân quả ngược.
Điều này không thể giải thích bằng neuron hay xung điện hóa học.
Vậy phải trăng ý thức đến từ một cấp độ tinh vi hơn, một thứ gì đó sâu hơn vượt ra khỏi cơ chế sinh học thuần tuy.
Đây là một câu hỏi quá phức tạp nên bị các nhà khoa học nế tránh xuất hàng thế kỳ, cho đến khi một người đàn ông đứng ra đối mặt trực tiếp với nó.
Roger Penrose, sinh ngày mùng 8 tháng 8 năm 1931, là nhà vật lý lý thuyết và toàn học người Anh.
Hiện đã 93 tuổi và đang là giáo sư tại Đại học Oxford và Cambridge.
Ông nổi tiếng với các công trình toàn học và vũ trụ học đã cùng Stephen Hawking phát triển các định lý kỳ dị.
Penrose được trao giải Nobel vật lý năm 2020 khi chứng minh sự hình thành của lỗ đen là hệ quả tất yếu của thuyết tương đối rộng.
Thế nhưng, đằng sau những công trình kinh điển ấy, Penrose lại mang một mối quan tâm sâu sắc đến con người.
Ngay từ nhỏ, ông đã bị ám ảnh bởi câu hỏi về ý thức và cái tôi.
Ông chịu ảnh hưởng từ cha là một nhà tâm thần học.
Penrose cho rằng ý thức không thể xuất hiện chỉ từ thuật toán điện hóa thuần tuý của Neuron.
Nó không đơn giản là một hệ thống tinh toán giống may tính.
Ông nhấn mạnh rằng nó phải là một thứ phi tinh toán đến từ một cấp độ sâu hơn và đó chỉ có thể là cấp độ lượng tử.
Vậy, lượng tử là gì?
Bạn có thể hiểu đơn giản thế này.
Lượng tử là cách mô tả những thứ nhỏ hơn nguyên tử với những quy luật khác thường.
Trong thế giới lượng tử, các hạt cơ bản như Electron có một tính chất nội tại là Spin, nghĩa là độ quay, nhưng không phải quay theo nghĩa thông thường mà là momentum hướng lượng tử.
Mỗi loại hạt có các spin khác nhau.
Với Electron thì chỉ có hai trạng thái Spin là thuận và ngịch, hay còn gọi là lên và xuống.
Để hiểu rõ hơn về Spin, hãy lấy ví dụ về Nam Trâm.
Bạn đã bao giờ thắc mắc từ trường Nam Trâm từ đâu ra không?
Đó chính là do Spin của Electron.
Trong vật liệu thông thường, Spin của các Electron hướng lên xuống lộn xộn nên từ trường bằng không.
Nhưng khi nhiều Spin hướng cùng một chiều trên diện rộng thì sẽ tạo nên từ trường và Spin cùng hướng thì đầy nhau, ngược hướng thì hút nhau.
Đây chính là cơ chế hoạt động của Nam Trâm.
Một ví dụ chối sinh kinh điển khi những Spin Vimo có thể tạo nên từ trường Vimo.
Tóm lại thì Spin là trạng thái nội tại của một hạt.
Và một hạt có thể tồn tại ở nhiều trạng thái cùng lúc.
Trẳng hạn như một Electron có thể ở trong trạng thái vừa lên vừa xuống.
Hiện tượng này được gọi là trồng chập, một hiện tượng vô cùng kỳ quái.
Và kỳ quái hơn nữa là hiện tượng này sẽ biến mất ngay lập tức nếu bị quan sát.
Giả sử có một Electron trồng chập vừa lên vừa xuống.
Nhưng khi bạn quan sát nó, bạn luôn chỉ thấy một kết quả là lên hoặc xuống mà thôi.
Đó là vì khi bị quan sát.
Electron sẽ ngay lập tức chọn ra một kết quả để cung cấp cho bạn.
Và toàn bộ thông tin về sự trồng chập biến mất tức thì hiện tượng này được gọi là sụp đổ ham sóng.
Là khi một hệ lượng tử sụp đổ về cổ điển.
Nhưng đây vẫn chưa phải điều kỳ quái nhất.
Trong thế giới lượng tử, các hạt có thể liên kết chặt chẽ đến mức trạng thái của một hạt thay đổi sẽ lập tức ảnh hưởng đến hạt kia bất kể khoảng cách bao nhiêu.
Đây được gọi là vướng lượng tử.
Và hai Electron trong một hệ vướng luôn ngược Spin nhau.
Đây được gọi là trạng thái singlet đôi sướng lượng tử.
Giữ cho tổng Spin bằng không tạo nên sự cân bằng.
Giả sử có hai Electron bị vướng.
Nếu bạn đó Electron này có Spin lên, thì Electron kia sẽ lập tức có Spin xuống dù cách đó cả tỷ Nam Anh Sáng.
Einstein gọi đây là tác động ma quái từ xa vì nó vi phạm nguyên lý cục bộ.
Vậy cục bộ là gì?
Cục bộ là khi một sự kiện diễn ra tại chỗ và chịu ảnh hưởng bởi những gì xung quanh về tốc độ không vượt quá Anh Sáng.
Ví dụ.
Khi bạn đạp xe thì lục tử chân chuyển vào bàn đạp, rồi chuyển qua xích đến bánh xe.
Hay, như anh nắng từ mặt trời chiều đến trái đất cần hơn 8 phút.
Nghĩa là không có cái gì tức thì từ chỗ này sang chỗ kia được, mọi thứ cần một đường chuyển và thời gian để chuyển đi.
Còn, vướng lượng tử thì thông tin được xác lập ngay lập tức mà không qua bất kỳ môi trường chuyển tin nào.
Đó chính là phi cục bộ.
Nhưng mà làm sao lại có thể phi cục bộ được nhỉ?
Ý là làm sao mà lại có thể tức thì được phải có cái gì liên kết chúng lại với nhau chứ?
Thực ra, khi đã phi cục bộ thì chúng không còn ở 2 nơi riêng biệt như trong không gian thực nữa.
Mà trở thành một hệ lượng tử thống nhất, tồn tại trong một không gian trạng thái lượng tử, gọi là không gian hiếu bất.
Tại đây không còn khái niệm khoảng cách nữa, hai hạt đã trở thành một thực thể duy nhất.
Trạng thái của chúng được mô tả bằng một hàm sóng chung không thể tách riêng cho từng hạt.
Hãy hình dung hai hạt Electron giống như tôi và bạn sống ở 2 nơi cách nhau hàng nghìn km.
Chúng ta hoàn toàn tách biệt trong không gian thực.
Tuy nhiên, nếu cả hai cùng nghĩ về một nơi, cùng nghe một bản nhạc, thì có thể ta đang ở cùng một nơi trong không gian ý thức, tương tự như hai Electron thống nhất trong không gian hiếu bất phi cục bộ.
Khi quan sát một hạt, không phải thông tin chuyên từ hạt này sang hạt kia mà là hàm sóng của cả hệ xúc đổ cùng lúc.
Hàm sóng đã bao gồm sẵn cả hai kết quả, việc quan sát chỉ chọn ra hiện thực mà thôi.
Nhưng mà khoan, nãy giờ đã nói rất nhiều về việc quan sát rồi.
Nhưng mà tại sao quan sát lại làm cho hệ xúc đổ được nhau?
Ý là chỉ nhìn thôi mà.
Đã ai làm gì đâu?
Đã chạm vào đâu?
Để hiểu về việc quan sát, hãy đến với thí nghiệm giao thoa hai khe kinh điển.
Trong thí nghiệm này, khi bắn từng hạt phô tông qua hai khe hệ thì luôn thu được giao thoa sóng đặc trưng, nếu trong một thiết bị quan sát xem hạt đi qua khe nào thì giao thoa biến mất.
Ta chỉ thu được hai luồng hạt mà thôi.
Vậy có phải ý thức của người quan sát đã ảnh hưởng đến kết quả?
Không hề.
Việc giao thoa biến mất chắc chắn là do có sự tương tác giữa hệ cổ điển và hệ lượng tử, khiến trạng thái trồng chọc bị xúc đổ.
Chẳng hạn như có tiêu hay sóng nào đó phát ra từ thiết bị quan sát.
Vấn đề này đã gây ra một cuộc tranh luận giữa hai nhà vật lý Anberg Einstein và Erwin Schrödinger vào năm 1935.
Khi đó Schrödinger đã đưa ra một thí nghiệm nổi tiếng mang tên con mèo Schrödinger như sau.
Một con mèo được nhốt vào trong hụp kín cùng với một trai Sianua, một cây búa, một máy giò phóng xã và một mẫu chất phóng xã với 50% sắc suất phân giã trong vòng 1 giờ.
Nếu nó phân giã, máy giò sẽ nhận tín hiệu và thả rơi cây búa đập vỡ trai Sianua và con mèo sẽ chết.
Còn không thì con mèo vẫn sống.
Trước khi mở hộp, hạt phóng xã ở chặng thái trông chọc, vừa phân giã, vừa chưa phân giã, vậy nên con mèo cũng ở chặng thái trông chọc, vừa sống, vừa chết.
Chỉ khi người quan sát mở hộp thì chặng thái mới xục đổ về một khả năng duy nhất.
Schrödinger dùng thí nghiệm này để đặt ra câu hỏi, khi nào thì một hệ trông chọc xục đổ?
Vụ giao thoa hai khẽ thì bảo là tại thiết bị, vậy vụ này nhìn trực tiếp bằng mắt thì sao?
Chẳng lẽ, chính ý thức của người quan sát đã quyết định chặng thái con mèo ư.
Anh Stanh không chấp nhận điều này, ông phát điên lên và nói.
À, thế à?
Ý thức của tôi lại quyết định con mèo sống hay chết cửa.
Con mèo sống hay chết được quyết định khi có người quan sát nó.
Vậy tôi còn sống là nhiều một người khác đang quan sát chăng.
Thế ai quan sát người đó?
Một chuỗi vô hạn quan sát lẫn nhau.
Tôi và bạn còn sống là do được người khác quan sát hay sao?
Liệu chúng ta có thể tồn tại độc lập mà không cần ai quan sát không?
Liệu một hệ có thể tự xúc đổ mà không cần quan sát hay không?
Thời con là sinh viên ngành toán ở Đại học Cambridge.
Roger Penrose đặc biệt bị thu hút bởi phương trình Schrödinger.
Sự kết hợp giữa ý thức và thế giới lượng tử đã cho ông cảm giác có một cái gì đó sâu hơn năm ở phía sau.
Penrose cho rằng, quá trình hệ lượng tử xúc đổ về cổ điển là một quá trình hoàn toàn ngậu nhiên.
Mà đã là ngậu nhiên thì không một thuật toán nào có thể tính toán kết quả được.
Đây chính xác là nơi duy nhất ý thức có thể xuất hiện.
Ông kết luận rằng ý thức chính là do trồng chợp lượng tử diễn ra trong não.
Nhưng có một vấn đề là các hiệu ứng lượng tử cần sự cô lập và đòi hỏi một môi trường cách ly tốt cực kỳ sạch sẽ và tĩnh lặng.
Tuy nhiên, não lại là một môi trường đầy hỗn loạn với các dòng điện hóa phức tạp.
Điều này khiến trạng thái trồng chợp biến mất ngay khi mới hình thành gọi là hiện tượng mất kết hợp lượng tử.
Đây chính là lý do nhiều nhà khoa học cho rằng hiện tượng lượng tử không thể xảy ra trong não.
Vì vậy cần một câu chúc đặc biệt để duy trì trạng thái lượng tử và Penrose vẫn chưa biết nó nằm ở đâu trong não.
Ông đã nêu chi tiết thác mắc này trong cuốn sách nổi tiếng The Emperor's New Mind Tâm Chi mới của Hoàng Đế, xuất bản 1989.
Sau đó, một bác sĩ thần kinh tên là Hammerhoff Tinker đọc được cuốn sách và đã liên hệ với Penrose.
Stuart Hammerhoff sinh ngày 16 tháng 7 năm 1947 là một bác sĩ gây mê và thần kinh người Mỹ, hiện là giáo sư tại Đại học Arizona.
Sau khi đọc sách của Penrose, ông cho biết trong não có một câu chúc đáp ứng hoàn hảo quá trình xử lý lượng tử, có tên là Vy ống.
Vy ống là những ống protein cực nhỏ trong neuron với câu chúc hình học cực kỳ tinh Vy có thể cách ly tốt khỏi môi trường xung quanh ở cấp độ nano là nơi xử lý thông tin giống như CPU sinh học.
Nó có đường kính khoảng 24nm được tạo thành từ các protein hình cầu gọi là tubulin.
Trong tubulin lại có các vùng nhỏ gọi là tuy kỳ nước tạo thành từ các acid amine kỳ nước có xu hướng thu hút các vòng thơm trong số đó có chyptophan, một vòng thơm dầu electronp, là loại electron trong các liền kết đôi hoặc vòng benzene.
Đây chính là yếu tố tạo ra các trạng thái lượng tử.
Cụ thể hơn, mỗi tubulin có 8 vòng chyptophan chứa vòng indol với rất nhiều electronp với điều kiện cách ly hoàn hảo.
Các trạng thái sóng của electronp có thể giao thoa và trông chập.
Mỗi cặp electronp sẽ tạo thành 1 cu bít, tức bít lượng tử, tương tự cu bít trong máy tính lượng tử.
Đồng thời, 8 vòng chyptophan cách nhau khoảng 2nm.
Đủ gần để các cu bít bị vướng lượng tử và giao động thành các vòng cộng hưởng trồng lên nhau trong các đường soán ốc trên khắp mạng vi ống.
Lúc này, chúng hình thành trạng thái lượng tử tập thể thông qua quá trình ngưng tụ Bose Einstein.
Ngưng tụ Bose Einstein là trạng thái đặc biệt khi nhiều hạt boson được làm lại gần độ không tuyệt đối trở thành 1 thực thể lượng tử duy nhất, không còn danh giới giữa các hạt.
Trong đó, boson là hạt cơ bản có spin nguyên, chẳng hạn như photon có spin bằng 1.
Vậy tại sao electron là hạt fermion có spin 1 phần 2 mà vẫn ngưng tụ được?
Thế mới hay chứ?
Như đã nói, mỗi cu bít được tạo thành từ 1 cặp electron pi trong chip tô phan, vậy nó sẽ có tổng spin bằng 0 hoặc 1 và có thể ngưng tụ.
Và ngưng tụ Bose Einstein có thể xảy ra trong môi trường ấm áp như não, chính là nhờ cấu trúc soán ốc của vi ống giữ ổn định cho các trạng thái lượng tử cực mạnh giữa các electron pi và khi các cu bít ngưng tụ thành hệ thống nhất đủ mạnh, chúng có thể liên kết xuyên neuron thông qua các khớp thần kinh hình thành mạng vướng lượng tử toàn não và khi xúc đổ sẽ tạo ra ý thức.
Nhưng mà khoan, có ai quan sát đâu mà xúc đổ được, và điều thú vị nằm ở đây.
Penrose không tin xúc đổ chỉ xảy ra khi bị quan sát.
Cụ thể, ông cho rằng không thời gian không thể trồng chập giống như vật chất được, nên khi 1 hạt trồng chập thì cũng phải kéo theo 2 cấu hình không thời gian riêng biệt, điều này làm công không thời gian tạo ra lực hấp dẫn theo thuyết tương đối rộng của Einstein.
Và nếu sự tranh lệch hấp dẫn giữa các trạng thái trồng chập đủ lớn, thì hệ sẽ xúc đổ mà không cần quan sát.
Đây chính là nguyên lý bất định Penrose.
Và ngưỡng tranh lệch cần thiết để gây ra xúc đổ được gọi là ngưỡng hấp dẫn Penrose.
Khi lực hấp dẫn vượt ngưỡng Penrose, trạng thái lượng tử sẽ xúc đổ và chọn ra 1 thực tại duy nhất, từ đó hình thành 1 đơn vị ý thức trước khi tín hiệu trở thành dòng điện hóa thần kinh.
Đây được gọi là xúc đổ khách quan hay objective reduction, nhưng sao lại là reduction mà không phải collapse?
Bản thân 2 từ này đều có thể hiểu là xúc đổ, tuy nhiên collapse là xúc đổ khi bị quan sát, còn reduction là tự xúc đổ.
Và vì các qubit trên toàn nãu duy trì trạng thái lượng tử thống nhất, tạo ra chuỗi xúc đổ đồng bộ nên được gọi là xúc đổ khách quan có tổ chức.
Mỗi lần xúc đổ là 1 khoảnh khác ý thức.
Đây chính là quá trình ý thức được render từ lượng tử, tương tự quá trình máy tính render các dữ liệu thành hình ảnh trên màn hình.
Và mỗi giây có khoảng 40 lần xúc đổ như vậy.
Tương ứng với 40 khoảnh khác ý thức mỗi giây, chung khớp với tần số sóng nãu là 40h.
Tức là dòng ý thức không liên tục dù bạn cảm nhận thời gian trôi mượt mà, và nó có thể giao động tuy theo sức khỏe, cụ thể.
Khi tỉnh táo, vì ông đủ năng lượng duy trì trạng thái xúc đổ diễn ra ổn định khoảng 40 lần mỗi giây nên ý thức mạch là khi mệt mỏi.
Vì ông không đủ năng lượng duy trì trạng thái lượng tử ổn định, xúc đổ diễn ra chậm hơn, chỉ còn khoảng 2-30 lần mỗi giây khiến ý thức không rõ nét.
Còn khi ngất xỉu, xúc đổ gần như bằng không gây mất ý thức tạm thời.
Như vậy, bạn không có dòng ý thức liền mạch mà chỉ là các khung hình riêng lẻ, giống như khung hình video vậy.
Ý thức chỉ có 40 khung hình trên dây.
Vậy tại sao chúng ta có thể xem được video 60 khung hình trên dây thậm chí là hơn?
Bạn xem được video tốc độ khung hình cao chính là vì số khung hình ý thức thấp hơn số khung hình video.
Nên ý thức không kịp cảm nhận từng khung hình, sinh ra ảo giác liên tục và mượt mà.
Để bạn dễ hình dung hơn nữa, hãy đến với một nhân vật trong vũ trụ DC Comics.
Barry Allen là một nhà khoa học Pháp Y, một đêm nọ.
Khi đang làm việc thì anh bị một tia xét đánh chúng tạo ra phản ứng kỳ lạ trong cơ thể kết nối anh với Speed Force, trường năng lượng cho phép anh di chuyển với tốc độ siêu niên và trở thành siêu anh hùng thơ Flash.
Lúc này, bộ não của Flash cũng cảm nhận thế giới ở tốc độ siêu niên.
Ý thức của anh có độ phân giải thời gian cực cao, xúc đổ lượng tử trong não có thể lên tới hàng chục nghìn lần mỗi dây.
Với anh, thế giới gần như đứng yên.
Flash chính là ví dụ cho vì ông siêu ổn định cho phép xúc đổ lượng tử dây đặc tạo ra siêu ý thức.
Nhưng Flash vẫn chưa là gì cả.
Trong phim Lucy, nhân vật chính là một cô gái trẻ bị ép vận chuyển một loại mai thúy siêu mạnh có tên CPH4 bằng cách nhét vào bụng.
Tuy nhiên, cô bị đánh đập trong lúc bị giam giữ khiến cho thuốc bị vỡ và ngấm vào người.
Kích hoạt năng lực não bộ của cô tới 100% trở thành một siêu sinh vật có trí nhớ tuyệt đối.
Nhìn thấy sóng điện tử, giao tiếp lượng tử và thao túng tử trường.
Việc dùng 100% nạo có thể tương đương việc tân xuất xúc đổ lượng tử đạt cực đại trong vị ống.
Ý thức của Lucy giờ đây là một ròng liên tục, không còn danh giới giữa các khung hình.
Cô không còn sống trong thời gian nữa.
Cô chính là thời gian.
Tuy nhiên, đó chỉ là phim.
Thực tế thì khác xa hoàn toàn.
Ý thức còn người rất mong manh.
Chỉ cần hoạt động thần kinh mất cân bằng một chút thì toàn bộ ý thức có thể bị phá hủy.
Cụ thể.
Loại thuốc của Lucy là một chất hư cấu được lấy cảm hứng phần nào từ mai thuy đá.
Một loại chất kích thích cực mạnh làm tăng dần truyền thần kinh một cách giữ rội.
Theo góc nhìn lượng tử, nó khiến các vị ống bị quá tải dẫn đến xúc đổ lượng tử quá nhanh và vô tổ chức.
Gây ra mất ngủ, ảo giác, loạn thần, thậm chí tổn thương não.
Ngược lại về đá là he, một chất ức chế thần kinh cực mạnh.
Theo góc nhìn lượng tử, nó ức chế hoạt động thần kinh làm chậm nhịp xúc đổ lượng tử dẫn đến sự tàn giá của dòng ý thức.
Tạo cảm giác buồn ngủ, hưng phấn, gây ức chế hô hấp.
Thậm chí có thể chận hẳn các xúc đổ, gây hôn mê hoặc ngừng ý thức.
Cả hai loại trên đều cực kỳ nguy hiểm và gây hại nghiêm trọng đến sức khỏe.
Các bạn nên tuyệt đối tránh xa.
Như vậy có thể nói lý thuyết lượng tử đã đưa ra một lời giải thích đột phá về bàn chất của ý thức.
Roger Penrose và Stuart Hameroff đã tập trung xây dựng vào hoàn thiện lý thuyết suốt năm năm trời.
Năm 1994, Penrose chính thức công bố lý thuyết xúc đổ khách quan có tổ chức trong cuốn sách bóng của tâm trí.
Ngay sau đó, nó đã gây ra nhiều tranh cãi.
Các nhà khoa học cho rằng lý thuyết này không thể trứng minh bằng thực nghiệm vì rất khó đo lượng lượng tử trong não.
Hơn nữa, sinh hóa cổ điện đã đủ dùng rồi.
Chưa cần thiết đến lượng tử, thế nhưng có những thứ mà sinh hóa cổ điện không thể giải thích được.
Chẳng hạn như hiện tượng gây mê, một quá trình là mất ý thức tạm thời.
Dù thuốc mê đã được sử dụng suốt hàng thế kỷ với vai trò cực kỳ quan trọng, nhưng cơ chế gây mê của nó đến nay vẫn chưa được hiểu rõ.
Rất nhiều giả thuyết đã được đưa ra.
Điển hình nhất là giả thuyết cho rằng thuốc mê làm giảm dòng điện hoạt động của các kênh yên dẫn truyền, như kênh Natree và Kali khiến thần kinh bị ngất tín hiệu tạm thời và mất ý thức.
Tuy nhiên, có một số điều khó hiểu như sau.
Các loại thuốc có cơ chế gây mê giống hệt nhau dù câu chúc hóa học khác biệt.
Chúng gây mê tức thì chỉ trong vài giây không kịp cho các thay đổi sinh học của mạng Neuron phức tạp và hiệu lực gây mê tỉ lệ thuận với độ hóa tan trong chất béo mà không rõ tại sao.
Những điều này gây đau đầu cho sinh hóa cổ điện, thế nhưng lượng tử lại giải thích được một cách hợp lý.
Theo đó, thuốc mê không chỉ trận tín hiệu thần kinh mà còn tác động vào các vị ống, chúng bám vào các tubulin phá hủy các trạng thái vướng, làm mất ý thức ngay lập tức.
Để hiểu rõ hơn, hãy đến với một ví dụ kinh điển là Xenon.
Xenon là một chất vô cùng kỳ lạ.
Nó là một nguyên tố khí chơ và không có bất kỳ tác dụng sinh hóa gì cả.
Thế mà nó lại gây mê cực mạnh, chỉ hít phải một lượng cực nhỏ cũng làm mất ý thức hoàn toàn.
Đây là điều sinh hóa cổ điện không thể lý giải, nhưng lại hoàn toàn phù hợp với lượng tử.
Theo đó, Xenon có thể chen vào giữa các tubulin và tương tác với electron pi thông qua lực van der Waals hoặc tương tác phân cực yếu, gây loạn hoặc khóa các giao động lượng tử làm tất ý thức.
Đặc biệt, các động vị Xenon có hiệu lực gây mê khác nhau dù chỉ khác về số neutron.
Điều này chỉ có thể giải thích bằng lượng tử.
Bây giờ nói về vấn đề tất ý thức.
Ý thức có thể tự tất mà không cần tác động bên ngoài.
Điều này xảy ra với bạn hàng ngày.
Đó chính là giấc ngủ.
Cụ thể, giấc ngủ có hai pha chính là giấc ngủ mơ và giấc ngủ sâu.
Trong giấc ngủ mơ, nạo vẫn hoạt động dù cơ thể bị vô hiệu hóa.
Lúc này, xúc đổ diễn ra ngẫu nhiên và vô tổ chức khiến ý thức meo mó tạo ra những giấc mơ kỳ lạ.
Ngược lại, trong giấc ngủ sâu, nạo hoạt động chậm lại, cơ thể thư rãn sâu để phục hồi.
Neuron không còn hoạt động ở tần số cao khiến trạng thái lượng tử không thể xúc đổ dẫn đến tất ý thức.
Lúc này, ý thức của bạn bị ngắt kết nối khỏi cơ thể, bạn không còn cảm giác thời gian trôi nữa cho đến khi ý thức kết nối trở lại khi thức dậy.
Bạn vừa ở tối hôm qua, lập tức đã là sáng hôm nay.
Vì vậy, giấc ngủ chính là lúc bạn tạm thời biến mất khỏi thế giới này.
Vậy còn sau khi chết thì sao?
Bạn có thể hình dung cái chết giống hệt như một giấc ngủ sâu chỉ khác ở chỗ là ý thức ngắt kết nối vĩnh viễn.
Nhưng có thực sự là vĩnh viễn không?
Hammeroff cho biết, khi một người chết lâm sàng các quá trình lượng tử trong náu bị mất kết nối và thoát ra ngoài, nếu người đó sống lại, chúng có thể quay về cơ thể và tái tạo ý thức như cũ.
Đó là lý do có những trải nghiệm cận tử mà nhiều người từng trải qua.
Theo Peros và Hammeroff, các trạng thái lượng tử trong náu không biết mất sau khi chết, mà phân tán ra ngoài kết cấu cơ bản của không thời gian, như trường lượng tử nên hay không gian plan.
Đây chính là một dạng bảo toàn thông tin lượng tử, hay còn gọi là linh hồn.
Vậy, ý thức khác gì linh hồn?
Ý thức là trạng thái biết mình đang tồn tại, có trải nghiệm chủ quan, tương tác được với thế giới, và chỉ xảy ra khi hệ thần kinh còn hoạt động.
Còn linh hồn là dấu vết của ý thức, là thông tin lượng tử gắn với ý thức, và tồn tại ngay cả khi hệ thần kinh đã ngừng hoạt động.
Nó lưu dữ kỹ ức và bản chất con người sau khi chết, và nếu có cơ chế phù hợp, thông tin này có thể được tiếp cận lại hoặc thậm chí đang nhập vào một cơ thể mới.
Bạn có bao giờ tự hỏi, sau khi chết thì tất cả kỹ ức của ta sẽ đi đâu không?
Tất cả kỷ niệm ấm áp bên gia đình, những phút giây hạnh phúc hay đau đớn, những sự hận thù rồi sẽ đi đâu, liệu tất cả những điều đó sẽ biến mất theo thần sát, hay có một phần nào đó vẫn còn tồn tại.
Khi bạn xóa một phai trên máy tính, dữ liệu không biến mất mà chỉ bị đánh dấu là có thể ghi đè, tức là máy chỉ xóa địa chỉ của phai thôi.
Còn dữ liệu vẫn nằm nguyên tại chỗ, chỉ là bạn không truy cập được nữa thôi, và nó hoàn toàn có thể khôi phục.
Thì cái chết có thể cũng giống như việc xóa địa chỉ phai mà thôi.
Dữ liệu có thể vẫn còn nguyên ở đó, và nếu có thể khôi phục dữ liệu này vào một thiết bị nào đó thì ý thức có thể được tái lập như cũ.
Steve Jobs cũng có suy nghĩ như vậy.
Vì vậy, kỷ ức và linh hồn là một dạng thông tin lượng tử có thể khôi phục khi đủ điều kiện, và nếu bằng một cách nào đó thông tin ấy tái tổ chức trong một cơ thể mới, thì đó chính là kiếp sau, tương tự luân hồi trong phật giáo.
Tuy nhiên, phật giáo thì có thể có thể khôi phục khi đủ điều kiện, và nếu bằng một cách nào đó thông tin ấy tái tổ chức trong một cơ thể mới, thì đó chính là kiếp sau, tương tự luân hồi trong phật giáo.
Tuy nhiên, phật giáo lại không công nhận khái niệm linh hồn, cụ thể.
Phật giáo khẳng định rằng, mọi pháp, tức mọi hiện tượng trên đời này đều phụ thuộc lẫn nhau tạo thành một vòng nhân quả, thể hiện qua mô hình được gọi là duyên khởi.
Bắt nguồn từ tiếng Phạn Pratitya nghĩa là phụ thuộc, và Samutpada nghĩa là phát sinh, nghĩa là mọi thứ đều phát sinh từ sự phụ thuộc.
Mô hình này gồm 12 nhân duyên mô tả quá trình tiếp nối của luân hồi.
Và khi 12 nhân duyên hợp lại thì trôi sinh ra ngủ, trong đó, ngu nghĩa là nằm, ngu nghĩa là tích tụ, ngu nghĩa là tích tụ của 5 thứ, bao gồm, sắc, thọ, tưởng, hành, thức.
Khi 5 thứ này tích tụ lại thì sinh ra con người, tức cái tôi.
Tuy nhiên, cái tôi này không cố định mà liên tục sinh và diệt 7-5 lần 1 giây, mỗi lần được gọi là 1 sát na.
Sát na là 1 đơn vị thời gian cực ngắn, bằng 1 phần 75 giây.
Sát nghĩa là khoảnh khắc, na nghĩa là nhỏ bé, sát na nghĩa là khoảnh khắc nhỏ bé, hay cái trước mắt là đơn vị thời gian nhỏ nhất, 1 chú kì sinh riệt của Pháp.
Theo đó, cái tôi hay ý thức là hiện tượng sinh khởi rồi tan hoại ngay trong mỗi sát na, tạo ra chuội ý thức đức đoạn.
Cái tôi liên tục chỉ là ảo giác mà thôi, giống như lý thuyết lượng tử.
Mỗi sát na như 1 lần xúc đổ lượng tử, trong phật giáo thì 75 lần 1 giây còn lý thuyết lượng tử thì chỉ 40 lần.
Vậy, cái gì chuyển kiếp sau khi chết?
Đó chính là nghiệp và thức.
Nghiệp là hành động tích lũy trong quả khứ, còn thức là dòng tâm thức từ kiếp này sang kiếp khác.
Cái tôi chỉ là trồi sinh từ ngũ ẩn nên tan rã khi chết.
Thức không tan mà tiếp tục tồn tại dưới dạng sóng thông tin nghiệp lực trước khi tài sinh.
Thức tồn tại ở chung ẩn, là trạng thái ở giữa các ẩn, giữa 2 đời sống, giữa cái chết và sự tài sinh.
Lúc mà thân xác cũ đã mất những thân xác cũ, chung ẩn kéo dài 49 ngày, chia làm 3 giai đoạn gọi là ba đô, nghĩa là khoảng giữa, cụ thể.
Ba đô lúc chết là phút lâm chung, ba đô thực tại là sau khi chết, và ba đô tài sinh là chuẩn bị tài sinh.
Trạng thái này là nơi biểu hiện các nghiệp thiện ác đã gèo.
Đây chính là giai đoạn render, nghiệp từ kiếp trước để hiện thị sang kiếp sau.
Với phật giáo nguyên thủy thì nghiệp kích hoạt tài sinh ngay sau khi chết mà không thông qua chung ẩn.
Như vậy, không có cái tôi hay lính hồn nào chuyển kiếp.
Chỉ có nghiệp tiếp nối tạo nên một chung sinh mới mà thôi.
Đức Phật nói rằng, nghiệp như lửa từ bó đuốc này truyền sang bó đuốc khác, không có cái gì được mang đi, nhưng lửa vẫn cháy.
Ghiệp và thức có thể tài sinh nếu đủ duyên, như thông tin lượng tử có thể khôi phục nếu đủ điều kiện vậy.
Và, mục tiêu của tu hành chính là xóa vĩnh viện những thông tin này, thoát khỏi vòng tài sinh và đạt đến chỗ này.
Nhiết bàn là chẳng thái chấm dứt hoàn toàn nghiệp và luân hồi.
Đây không phải là chấm dứt sự sống mà là chấm dứt vô minh.
Cái tôi chỉ là ảo tưởng trồi sinh từ ngũ ổn và duyên khởi.
Khi duyên hết thì cái tôi cũng tan, khổ đau cũng chấm dứt.
Đó chính là giải thoát.
Và khi một người đạt đến Nhiết bàn thì người đó được gọi là la hán, là đích đến cuối cùng của con đường tu tập.
Những người có thể đạt Nhiết bàn nhưng chọn ở lại để cứu giúp chung sinh, thì được gọi là bó đuốc.
Vì vậy, dù la hán đã giải thoát, còn bó đuốc thì chưa.
Nhưng bó đuốc lại được xem là lý tưởng cao nhất.
Bó đuốc không cứu mình trước mà cứu người trước.
Nhưng liệu còn con đường giải thoát nào khác hay không?
Lão tử viết xáu chữ mở đầu kinh điển trong đạo Đức Kinh là Đạo khả đạo phi thường đạo.
Nghĩa là đạo có thể nói ra được thì không phải đạo thực sự.
Đạo nghĩa là con đường là nguyên lý, là bò đuốc.
Đạo nghĩa là con đường là nguyên lý, là bản chất thực tại tối hậu, vô hình vô tướng, vượt khỏi mọi ngôn từ, khái niệm và định danh.
Cột lõi vũ trụ quan của đạo ra được lão tử tóm gọn trong đạo Đức Kinh là Đạo sinh nhất, nhất sinh nhị, nhị sinh tam, tam sinh vạn vật từ cái đạo vô hình trôi sinh ra cả thế giới.
Con người chính là trôi sinh của đạo, được tạo thành từ hai thứ là hôn và phách.
Ba phần hôn chi phô ý thức và trí tuệ, 7 phách cai quản cảm xúc và tâm sinh lý cơ thể.
Khi chết đi, 7 phách tiêu tán cùng thân xác, mỗi phách mất 7 ngày, tổng là 49 ngày, còn 3 hôn sẽ bay đi, thế mới nói, hôn bay phách tán.
Vậy hôn bay đi đâu?
Hôn sẽ bay đi đầu thai để tiếp tục cuộc đời mới.
Hoặc nếu tu luyện đủ thì sẽ không còn tái sinh mà trở về với đạo.
Cụ thể, một người tu luyện bằng cách thực hành vô vi nghĩa là không làm gì.
Đây đủ hơn là vô vi nhì vô bất vi nghĩa là, không làm gì mà không gì là không làm.
Tức là, không làm gì cưỡng ép mà lại làm được mọi việc một cách tròn đầy.
Lấy ví dụ về vô vi chính là Steve Jobs, không cưỡng ép, không quy trình nặng nề, nhưng lại kích hoạt động lực của nhân sự khiến Apple vận hành em ái và đạt được thành tự vượt bậc.
Khi một người thực hành vô vi đủ sâu, thì sẽ đạt đến trạng thái gọi là thượng thiện nhược thủy.
Cụ thể, trong trương tám của đạo Đức Kinh, lão tử mở đầu rằng thượng thiện nhược thủy, thủy thiện lợi vạn vật nhì bất tranh, sử chúng nhân chi sở ố, có kỳ ưu đạo.
Nghĩa là, cái thiện cao nhất thì giống như nước, nước lợi cho vạn vật mà không tranh dành, luôn ở nơi thấp kém mà người đời ghét, vậy nên gần với đạo.
Nước nhu hòa, không tranh dành, thuận theo mọi thứ, nhưng lại có thể xuyên thủng đá, tạo nên xong biển, nuôi giữa vạn vật, nước luôn chảy về trộn thấp kém nhất mà mọi người tránh xa.
Nước làm tất cả mà không khẳng định cái tôi không lưu lại dấu tích.
Con người cũng vậy, khi cái tôi tan biến thì sống như nước, mềm mại, lặng lẽ, không phô trường, không đối đầu, không bon chen, làm việc lợi mà chẳng để lại dấu tích.
Lấy ví dụ về một người gần với thượng thiện nhược thủy là võ sư và chiết gia lý tiểu long.
Ông đã sáng tạo ra môn võ riêng là tiệt quyền đạo, là môn võ kết hợp từ các môn võ như vịxuân, Karate, quyền Anh.
Biểu tượng của tiệt quyền đạo có trung tâm là thái cực của đạo, với hai mũi tên thể hiện tương tác âm rương vô hạn, cùng hai dòng chữ là lấy vô hạn làm hữu hạn.
Dùng vô pháp làm hữu pháp, nghĩa là không dùng kỹ thuật hay môn phái cụ thể nào, mà tùy cơ ứng biến linh hoạt như nước.
Nước trong suốt có thể nhìn xuyên thấu, nhưng đôi khi cũng có thể chê khuất.
Nước có thể tách thành hai dòng khi gặp vật cản và hợp thành một dòng ở phía bên kia.
Em tự nhiên.
Tự nhiên.
Tự nhiên.
Tự nhiên.
Tự nhiên.
Tự nhiên.
Tự nhiên.
Tự nhiên.
Tự nhiên.
Tự nhiên.
Tự nhiên.
Tự nhiên.
Tự nhiên.
Tự nhiên.
Tự nhiên.
Tự nhiên.
Tự nhiên.
nhất với đạo rồi.
Nói cách khác.
Thượng thiện nhược thủy chính là trạng thái của một người đã đắc đạo.
Và người đã đắc đạo được gọi là chân nhân, chân là chân thực nhân là người, nghĩa là người thực sự.
Trang tử mêu tả chân nhân không phải thần thánh cao siêu gì, mà chỉ là một người bình thường đã buông bỏ cái tôi, không tranh dành, không tiêu cực, sống thuận với đời, tự nhiên như nước.
Đó có thể là một vị chủ tịch, một vị giám đốc, một người giáo viên, một bác bảo vệ, một chú xe ôm, hay một cô bán rau.
Vậy mới nói chân nhân bất lộ tướng.
Chân nhân không bị trói buộc bởi danh lợi hay thị phi, không có thể hiện trí tuệ hay quyền lực, không hành sử theo tình riêng.
Họ sống hồn nhiên, giản dị như một kẻ tầm thường.
Và chân nhân sau khi chết thì lính hồn không đầu thai mà hoàn nhập lại với đạo, giống như giọt nước trở về đại dương, như thông tin lượng tử trở về với trường lượng tử nên.
Phải nói thêm là ta bàn về đạo ra chứ không phải đạo giáo, đạo ra là một tư tưởng chiết học.
Còn đạo giáo là tôn giáo dựa trên nền tảng của đạo ra, nhưng thêm yếu tố hư cấu như thần tiên hay trường sinh.
Như vậy, về bản chất thì cả đạo ra và phật giáo đều hướng đến buông bỏ, tuy nhiên khác biệt ở chỗ.
Phật giáo buông bỏ bằng cách nhìn vào khổ đau và chủ động gian luyện tâm thức đôi khi rất nghiêm khắc và khổ hạnh.
Còn, đạo ra buông bỏ bằng cách sống thuận với đời, không cường ép, không đặt nặng việc tu hành khổ hạnh.
Có thể nói, đạo ra gần với tinh thần buông bỏ hơn cả phật giáo.
Phật giáo là chấm dứt dòng chảy, còn đạo ra là hòa vào dòng chảy.
Tuy vậy, điểm chung vẫn là buông bỏ cái tôi và không chấp vào một lính hồn vĩnh cử.
Trái ngược phật giáo và đạo ra, Thiên Chúa giáo lại cho rằng, mọi người đều có một lính hồn vĩnh cử được chúa trực tiếp tạo ra.
Kinh thành viết rằng, Thiên Chúa lấy bụi đất nắn nên con người, rồi hà sinh khí vào lỗ mũi nó và con người trở nên một sinh lính sống động.
Sau khi chết, lính hồn không biến mất mà tiếp tục tồn tại để lên thiên đàng hoặc xuống địa ngục.
Vậy chúa có tồn tại hay không?
Đó là một câu hỏi quá lớn lao, vượt tầm với của con người.
Ngay cả việc đặt ra câu hỏi ấy đã là quá sức lắm rồi chứ đừng nói đến việc trả lời, nhưng, dù không biết, ta vẫn có thể tin.
Ở góc nhìn rộng hơn vượt ra ngoài tôn giáo, chúa không nhất thiết phải là một nhân cách có suy nghĩ hay cảm xúc, mà là một nguyên lý tối cao, như ta vẫn gọi là thượng đế, đứng tạo hóa, hay người việt gọi là ông trời.
Theo nghĩa này, chúa không ban phước hay trừng phạt, mà chỉ hiện diện như một nền tảng vĩnh hàng, tương tự như đạo trong đạo ra, hay pháp trong phật giáo.
Chúa có thể chính là trường lượng tử nền, thiết lập nên các định luật, các hàng số như hàng số planh, hàng số hấp dẫn, số pi, tốc độ ảnh sáng, vân vân, và từ đó vũ trụ cùng sự sống trồi sinh qua vụ nổ bích bang.
Chúa có tồn tại hay không?
Cái đó chỉ có chúa mới biết được thôi.
